TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2644/2024/DS-ST
Ngày: 21/06/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1846/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2947/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2348/2024/QĐ-HPT ngày 31 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: 266 – B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền ông Nguyễn Minh T
- Bị đơn: Bà Lâm Thị Ánh X, sinh năm 1989
Hiện trú tại: B Chung cư D, A L, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Ông T có đơn xin vắng mặt, bà X vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay ông Nguyễn Minh T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Ngày 29/09/2020 bà Lâm Thị Ánh X có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của bà Lâm Thị Ánh X, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích là tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Lâm Thị Ánh X đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 259.790.975 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Lâm Thị Ánh X đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 231.799.500 đồng, số còn lại bà Lâm Thị Ánh X không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Lâm Thị Ánh X vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Lâm Thị Ánh X vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/12/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang dư nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ, đôn đốc bà Lâm Thị Ánh X thực hiện việc trả nợ nhưng bà Lâm Thị Ánh X luôn né tránh, không thiện chí trả nợ. Nay tại Tòa, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án xử buộc bà Lâm Thị Ánh X phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/06/2024 là 76.584.133 đồng, trong đó dư nợ gốc là 35.867.347 đồng và lãi quá hạn là 40.716.786 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Và bà Lâm Thị Ánh X có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/06/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Lâm Thị Ánh X vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Trần Thị H - Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định.
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S và bà Lâm Thị Ánh X là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Bà Lâm Thị Ánh X là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để bà Lâm Thị Ánh X đến Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng bà Lâm Thị Ánh X vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
2. Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Nguyễn Minh T là đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án xử buộc bà Lâm Thị Ánh X phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tạm tính tạm tính đến ngày 21/06/2024 là 76.584.133 đồng, trong đó dư nợ gốc là 35.867.347 đồng và lãi quá hạn là 40.716.786 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lâm Thị Ánh X có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/06/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng, yêu cầu của Ngân hàng TMCP S, Hội đồng xét xử xét:
[2.1] Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà Lâm Thị Ánh X, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh bà Lâm Thị Ánh X có nợ tiền Ngân hàng TMCP S. Tòa án đã triệu tập bà Lâm Thị Ánh X đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng bà Lâm Thị Ánh X đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Bà Lâm Thị Ánh X phải chịu tránh nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng TMCP S đưa ra.
[2.2] Căn cứ vào văn bản là giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29 tháng 9 năm 2020 có chữ ký của bà Lâm Thị Ánh X đã cho thấy bà Lâm Thị Ánh X có đề nghị Ngân hàng TMCP S cấp thẻ tín dụng, Ngân hàng TMCP S đã chấp nhận cấp thẻ tín dụng cho bà Lâm Thị Ánh X và hạn mức được cấp là 30.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất thỏa thuận. Việc thỏa thuận trên giữa Ngân hàng TMCP S và bà Lâm Thị Ánh X là phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Đều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi được Ngân hàng TMCP S cấp thẻ, bà Lâm Thị Ánh X đã tiến hành giao dịch. Trong quá trình giao dịch, bà Lâm Thị Ánh X không thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP S theo như hai bên đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng TMCP S nhiều lần nhắc nhở. Do bà Lâm Thị Ánh X vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Lâm Thị Ánh X. Bà Lâm Thị Ánh X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Lâm Thị Ánh X phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S với số tiền nợ gốc là 35.867.347 đồng là có cơ sở và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.3] Đối với số tiền nợ lãi: Bà Lâm Thị Ánh X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S đã áp dụng mức lãi suất mà hai bên đã ký để tính lãi, căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 29 tháng 9 năm 2020, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S thì bà Lâm Thị Ánh X phải chịu số tiền lãi đến ngày 21 tháng 06 năm 2024 và tiếp tục trả lãi từ ngày 22 tháng 06 năm 2024 trên số tiền nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 29 tháng 9 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong các khoản tiền nợ gốc, lãi là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì bà Lâm Thị Ánh X đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc bà Lâm Thị Ánh X vi phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Ngân hàng TMCP S. Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Lâm Thị Ánh X phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Từ những phân tích tại [2.1], [2.2], [2.3] và [2.4] cho thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.
Về án phí:
- - Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu bà Lâm Thị Ánh X có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S.
Buộc bà Lâm Thị Ánh X có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 76.584.133 đồng, trong đó dư nợ gốc là 35.867.347 đồng và lãi quá hạn là 40.716.786 đồng. Trả 01 (một) lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp bà Lâm Thị Ánh X chậm trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22 tháng 06 năm 2024 cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 29 tháng 9 năm 2020 mà hai bên đã ký.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[2] Về án phí:
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm bà Lâm Thị Ánh X phải chịu là 3.829.207 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Bà Lâm Thị Ánh X chưa nộp án phí.
[2.2] H1 lại cho Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP S số tiền 1.600.404 đồng mà Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP S đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000523 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức lập.
[3] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 2644/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2644/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Lâm Thị Ánh Xuân
