|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2643/2024/DS-ST
Ngày: 21/06/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1672/2023/TLST–DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2948/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2345/2024/QĐ-HPT ngày 31 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T( Việt Nam )
Trụ sở: 91, P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền bà Lâm Thị Thùy D
- Bị đơn: Ông Nguyễn An K, sinh năm 1976
Trú tại: Số A, Đường A, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà D có đơn xin vắng mặt, ông K vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty T ( Việt Nam ) tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Ngày 17/12/2022, Công ty T ( Việt Nam ) ký Hợp đồng tín dụng số 4127934 về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn An K với khoản vay trị giá 21.540.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T ( Việt Nam ) đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn An K. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn An K có trách nhiệm/nghĩa vụ thanh toán/trả góp hàng tháng với số tiền 1.412.911 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 15/01/2023 đến ngày 15/12/2024. Tuy nhiên sau khi được giải ngân, ông Nguyễn An K đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T (Việt Nam) đã giải ngân. Công ty T ( Việt Nam ) đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Nguyễn An K thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời Công ty T ( Việt Nam ) cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán/thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Nguyễn An K biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên ông Nguyễn An K vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện/hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T ( Việt Nam ). Tính đến ngày 21/06/2023 ông Nguyễn An K đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền sau:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 20.330.521 đồng
- Số tiền lãi trong hạn 9.458.557 đồng
- Số tiền lãi quá hạn là 5.458.351 đồng
- Số tiền lãi chậm trả là 695.817 đồng
Như vậy tính đến ngày 21/06/2024 tổng cố tiền ông Nguyễn An K phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi, phí) là 35.943.246 đồng. Nay tại Tòa, Công ty T ( Việt Nam ) yêu cầu Tòa án xử buộc ông Nguyễn An K thanh toán một lần toàn bộ khoản vay cho Công ty T ( Việt Nam ) với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tạm tính đến ngày 21/06/2024 là 35.943.246 đồng đồng; buộc ông Nguyễn An K thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 22/06/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay nói trên.
Bị đơn ông Nguyễn An K vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không có thu thập được lời khai.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Nguyễn Ngọc B kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã qui định
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa Công ty T ( Việt Nam ) và ông Nguyễn An K là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức;
[2] Ông Nguyễn An K là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để ông Nguyễn An K đến Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng ông Nguyễn An K vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
2. Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của bà Lâm Thị Thùy D là đại diện theo ủy quyền của Công ty T ( Việt Nam ), Công ty T ( Việt Nam ) yêu cầu ông Nguyễn An K có trách nhiệm trả cho Công ty T ( Việt Nam ) số tiền nợ trong hợp đồng tín dụng tính đến ngày 21 tháng 06 năm 2024: Nợ gốc: 20.330.521 đồng, nợ lãi trong hạn 9.458.557 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.458.351 đồng, nợ lãi chậm trả là 695.817 đồng, tổng cộng 35.943.246 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp lực và phải tiếp tục trả lãi theo quy định khi bản án của
Tòa án có hiệu lực pháp lực, yêu cầu của Công ty T ( Việt Nam ), Hội đồng xét xử xét:
[1] Công ty T ( Việt Nam ) khởi kiện ông Nguyễn An K, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh ông Nguyễn An K có nợ tiền Công ty T ( Việt Nam). Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn An K đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng ông Nguyễn An K đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông Nguyễn An K phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T (Việt Nam) đưa ra.
[2] Căn cứ Văn bản là Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4127934 ngày 15 tháng 12 năm 2022 có chữ ký của ông Nguyễn An K đã cho thấy ông Nguyễn An K có đề nghị Công ty T ( Việt Nam ) cho vay số tiền 21.540.911 đồng. Công ty T ( Việt Nam ) đã chấp nhận cho cho ông Nguyễn An K vay số tiền trên, mục đích vay mua hàng hóa, lãi suất thỏa thuận, việc thỏa thuận trên giữa Công ty T ( Việt Nam ) và ông Nguyễn An K là phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117 Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Đều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi được Công ty T ( Việt Nam ) giải ngân cho ông Nguyễn An K, ông Nguyễn An K đã tiến hành giao dịch. Sau khi ông Nguyễn An K đã vay được tiền, trong vài tháng đầu ông Nguyễn An K có thanh toán tiền cho Công ty, nhưng dần về sau thì ông Nguyễn An K không thanh toán, Công ty đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Nguyễn An K vẫn cố tình né tránh không thực hiện nghĩa vụ. Do ông Nguyễn An K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T ( Việt Nam ) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn An K phải trả nợ cho Công ty T ( Việt Nam ) với số tiền vốn gốc là 20.330.521 đồng là có cơ sở và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận;
[3] Đối với số tiền nợ lãi: Ông Nguyễn An K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty T ( Việt Nam ) đã áp dụng mức lãi suất mà hai bên đã ký để tính lãi, căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng thì ông Nguyễn An K phải chịu số tiền lãi mà nên Công ty T ( Việt Nam ) đã yêu cầu là có cơ sở. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận
[4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì ông Nguyễn An K đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc ông Nguyễn An K vi
phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Công ty T ( Việt Nam ). Nay Công ty T ( Việt Nam ) yêu cầu ông Nguyễn An K phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận;
Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty T ( Việt Nam ) là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.
Về án phí:
- - Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T ( Việt Nam ) về việc yêu cầu ông Nguyễn An K có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T ( Việt Nam):
Buộc ông Nguyễn An K có nghĩa vụ trả cho Công ty T ( Việt Nam ) số tiền 35.943.246 đồng, trong đó nợ gốc 20.330.521 đồng, nợ lãi trong hạn 9.458.557 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.458.351 đồng, nợ lãi chậm trả là 695.817 đồng. Trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp ông Nguyễn An K chậm trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22 tháng 06 năm 2024 cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất được quy định trong giấy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4127934 ngày 15 tháng 12 năm 2022 mà Công ty T ( Việt Nam ) và ông Nguyễn An K đã ký;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[2] Về án phí:
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn An K phải chịu là 1.797.162 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[2.2] H lại cho Công ty T ( Việt Nam ) số tiền 638.622 đồng mà Công ty T ( Việt Nam ) đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 000609 ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức.
[3] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 2643/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2643/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
