TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 2642/2024/DS-ST
Ngày: 21/06/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay vốn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1789/2023/TLST–DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay vốn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2945/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2347/2024/QĐ-HPT ngày 31 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Quỹ trợ vốn xã viên HTX Thành phố H
Trụ sở: Số E- 54, Bùi Thị X, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền ông Thái Quốc D
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1966
Trú tại: Số G, Đường B, khu phố A, phường B, Thành phố T
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- Bà Nguyễn Ánh H, sinh năm 2003
Trú tại: Số G, Đường B, khu phố A, phường B, Thành phố T
- Tổ hợp tác số 1 phường B, Quận B nay là phường B, Thành phố T
Có bà Nguyễn Thị X1, sinh năm 1957 làm đại diện
Trú tại : A, Đường C, khu phố A, phường B, Thành phố T.
Ông D, bà X1 có đơn xin vắng mặt, bà E, bà H vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay ông Thái Quốc D là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Quỹ trợ vốn xã viên HTX Thành phố H tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã T (gọi tắt là Quỹ CCM) là đơn vị trực thuộc Liên minh Hợp tác xã thành phố H, được Chủ tịch U ký Quyết định thành lập số 2539/QĐ-UB ngày 13/6/2002. Quỹ CCM có nhiệm vụ chủ yếu là đưa nguồn vốn vay đến lĩnh vực kinh tế hợp tác, Hợp tác xã thuộc các phường - xã, quận - huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình họat động, Quỹ CCM đã ký Hợp đồng Liên kết số: 021/21/LK- Q9 ngày 01/06/2021 giữa Quỹ CCM với Tổ hợp tác số 01 phường B, Tp . để làm cấp liên nhiệm (hay còn gọi là cộng tác viên) cho Quỹ CCM. Thông qua Hợp đồng này, Quỹ CCM đã tiến hành trợ vốn cho Bà Nguyễn Thị E (theo hồ sơ trợ vốn đính kèm). Bà Nguyễn Thị E được Quỹ CCM trợ vốn với số tiền là 40.000.000 đã ký nhận ngày 07/06/2021 với sự chứng kiến của Cấp liên nhiệm; Loại hình trợ vốn góp tháng, Thời hạn 24 tháng, và Bà Nguyễn Thị E phải trả phí trợ vốn CCM: 0,65%/tháng, phí hoa hồng cho Cấp liên nhiệm: 0,15%/tháng, tiết kiệm bắt buộc là: 1.0%/tháng. Phương thức hoàn trả mỗi tháng một lần bao gồm vốn, phí và tiết kiệm là 2.440.000 đồng; Ngày tất toán nợ là 07/06/2023. Theo kế hoạch thì bà E phải góp hàng tháng là: 2.440.000 đồng trong 23 tháng đầu, tháng cuối góp 1.160.000 đồng và góp đều cho đến ngày hết hạn hợp đồng là ngày 07/06/2023. Thế nhưng Bà Nguyễn Thị E không góp đúng theo kế hoạch ban đầu. Đến ngày 30/9/2023, Bà Nguyễn Thị E vẫn chưa hoàn trả hết số nợ cho Quỹ CCM. Tổng số tiền nợ quá hạn là 18.400.000 đồng, bao gồm nợ vốn: 14.060.000 đồng; Nợ lãi (phí) 4.340.000 đồng và khoản lãi phát sinh sẽ tính đến thời điểm Bà Nguyễn Thị E thanh toán nợ. Nay tại Tòa, Qũy trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H cùng có trách nhiệm phải hoàn trả toàn bộ số tiền nợ cho Qũy trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H tạm tính đến ngày 21 tháng 06 năm 2024 với số tiền tổng cộng là 20.136.000 đồng, trong đó nợ tiền vốn vay còn thiếu là 14.060.000 đồng, tiền lãi 4.340.000 đồng, lãi quá hạn là 1.736.000 đồng. Yêu cầu trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật; Bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H còn phải tiếp tục nợ lãi và phí phát sinh tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2024 đến thời điểm bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H thanh toán xong nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị E và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ánh H vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Nguyễn Ngọc B - Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định.
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . và bà Nguyễn Thị E là tranh chấp hợp đồng vay vốn, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H đến Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[1.3] Theo nội dung đơn đề nghị vay vốn của bà Nguyễn Thị E thì trong đơn có đoạn “ Nếu người xin trợ vốn không thực hiện theo cam kết nêu trên thì người có nghĩa vụ trả thay phải chịu trách nhiệm hoàn trả vốn, phí đầy đủ và đúng hạn cho Q trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . ”, mà người có nghĩa vụ trả thay là bà Nguyễn Ánh H. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định đưa bà Nguyễn Ánh H tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.
2. Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Thái Quốc D là đại diện theo ủy quyền của Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP ., Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . yêu cầu Tòa án xử buộc bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H phải thanh toán cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . tạm tính đến ngày 21 tháng 06 năm 2024 với số tiền tổng cộng là 20.136.000 đồng, trong đó nợ tiền vốn vay còn thiếu là 14.060.000 đồng, tiền lãi 4.340.000 đồng, lãi quá hạn là 1.736.000 đồng. Yêu cầu trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật; Bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H còn phải tiếp tục nợ lãi và phí phát sinh tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2024 đến thời điểm bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H thanh toán xong nợ, yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét:
[2.1] Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . khởi kiện bà Nguyễn Thị E, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh bà Nguyễn Thị E, có nợ tiền Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP .. Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị E đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng bà Nguyễn Thị E đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Bà Nguyễn Thị E phải chịu tránh nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu, chứng cứ mà Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . đưa ra.
[2.2] Căn cứ vào Hợp đồng Liên kết số: 021/21/LK- Q9 ngày 01/06/2021 giữa Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . với Tổ hợp tác số 01 phường B, Tp . đã ký, Q trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . đã cho bà Nguyễn Thị E vay vốn với số tiền là 40.000.000 đồng; Loại hình trợ vốn góp tháng, Thời hạn góp 24 tháng, và bà Nguyễn Thị E phải trả phí trợ vốn CCM: 0,65%/tháng, phí hoa hồng cho Cấp liên nhiệm: 0,15%/tháng, tiết kiệm bắt buộc là: 1.0%/tháng. Phương thức hoàn trả mỗi tháng một lần bao gồm vốn, phí và tiết kiệm là 2.440.000 đồng; Ngày tất toán nợ là 07/06/2023. Bà Nguyễn Thị E đã nhận tiền ngày 07/06/2021 dưới sự chứng kiến của Cấp liên nhiệm. Theo kế hoạch thì bà Nguyễn Thị E phải góp hàng tháng là: 2.440.000 đồng trong 23 tháng đầu, tháng cuối góp 1.160.000 đồng và góp đều cho đến ngày hết hạn hợp đồng là ngày 07/06/2023. Sau khi đã nhận đủ số tiền vay vốn, theo thỏa thuận thì bà Nguyễn Thị E phải góp hàng tháng cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP ., nhưng bà Nguyễn Thị E đã không thực hiện. Do đó, Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . đã khởi kiện và yêu cầu bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H phải trả lại cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . số tiền vốn vay chưa thanh toán là 14.060.000 đồng, yêu cầu của Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . là có sở sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận
[2.3] Đối với số tiền nợ lãi: Căn cứ vào nội dung Hợp đồng Liên kết số: 021/21/LK- Q9 ngày 01/06/2021 giữa Quỹ CCM với Tổ hợp tác số 01 phường B, Tp . đã ký, trong đó bà Nguyễn Thị E là thành viên của Tổ hợp tác số 01 phường B, Tp .. Bà Nguyễn Thị E đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . yêu cầu bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H phải có trách nhiệm trả lãi do chậm thanh toán vốn vay theo nội dung được nêu tại Hợp đồng Liên kết số: 021/21/LK- Q9 ngày 01/06/2021 giữa Quỹ CCM với Tổ hợp tác số 01 phường B, Tp . đã ký là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì bà Nguyễn Thị E đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc bà Nguyễn Thị E vi phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP .. Nay Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . yêu cầu bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.5]. Theo nội dung đơn đề nghị vay vốn của bà Nguyễn Thị E thì trong đơn có đoạn “ Nếu người xin trợ vốn không thực hiện theo cam kết nêu trên thì người có nghĩa vụ trả thay phải chịu trách nhiệm hoàn trả vốn, phí đầy đủ và đúng hạn cho Q trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP .”. Do đó, Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . yêu cầu bà Nguyễn Ánh H cùng phải chịu trách nhiệm với bà Nguyễn Thị E trong việc thanh toán nợ cho Q trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . là có cơ sở, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bà Nguyễn Ánh H cùng chịu trách nhiệm với bà Nguyễn Thị E trả nợ vốn vay cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . là có cơ sở, đúng pháp luật.
Từ những phân tích tại [2.1], [2.2], [2.3], [2.4] và [2.5] cho thấy yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.
Về án phí:
- Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Thị H1 cùng có nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP .
Buộc bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ trả cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . số tiền tổng cộng là 20.136.000 đồng, trong đó nợ tiền vốn vay còn thiếu là 14.060.000 đồng, tiền lãi 4.340.000 đồng, lãi quá hạn là 1.736.000 đồng. Trả 01 (một) lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H chậm trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22 tháng 06 năm 2024 cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất được quy định trong Hợp đồng Liên kết số: 021/21/LK- Q9 ngày 01/06/2021 giữa Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . với Tổ hợp tác số 01 phường B, Tp . đã ký.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[2] Về án phí:
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H cùng có trách nhiệm chịu là 1.006.800 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Bà Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Ánh H chưa nộp án phí.
[2.2] H2 lại cho Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . số tiền 460.000 đồng mà Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã TP . đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006180 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức lập.
[3] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 2642/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay vốn
- Số bản án: 2642/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay vốn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Qũy trợ vốn xã viên HTX Thành phố Hồ Chí Minh - Bà Nguyễn Thị Em
