TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2641/2024/DS-ST
Ngày: 21/06/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1626/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2946/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2346/2024/QĐ-HPT ngày 31 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á
Trụ sở: D N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền bà Trần Hàng T N
Bị đơn: Ông Lê Nhật Q
Địa chỉ: E đường N, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà NQ vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Trần Hàng T N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á (A tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Ngân hàng TMCP Á tín dụng cho ông Lê Nhật Q1 cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ký ngày 22/07/2019, số thẻ tín dụng 4365.9990.0007.8638, ngày cấp 06/08/2019, hạn mức thẻ là 100.000.000 đồng, hiệu lực thẻ tới tháng 8/2022. Lãi suất và phí được quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Trần N Q1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho A do đó ngày 20/09/2021 A chuyển khoản thẻ sang nợ quá hạn, đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi dư nợ thẻ chưa thanh toán. Ngày 16/12/2022, A thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với thẻ tín dụng trên. Tính đến ngày 21/06/2024, ông Lê Nhật Q2 nợ A1 gốc là 73.044.526 đồng, lãi quá hạn là 71.399.743 đồng. Tổng cộng là 144.444.269 đồng. Nay tại Tòa, Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Tòa án xử buộc ông Lê Nhật Q3 ngay một lần khi bản án có hiệu lực toàn bộ số tiền 144.444.269 đồng. Ông Lê Nhật Q2 phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A2 kể từ ngày 22/06/2024 đến khi trả hết nợ. Thứ tự nợ như sau: vốn gốc, lãi quá hạn
Bị đơn ông Lê Nhật Q vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Đoàn Thị T1 - Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định.
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Á ông Lê Nhật Q là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Ông Lê Nhật Q là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để ông Lê Nhật Q4 Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng ông Lê Nhật Q vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
2. Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của bà Trần Hàng T2 là đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Á, Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Tòa án xử buộc bà Trần Hàng T N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á, tạm tính đến ngày 21 tháng 06 năm 2024, nợ vốn gốc là 73.044.526 đồng; nợ lãi quá hạn 71.399.743 đồng. Tổng cộng là 144.444.269 đồng, Trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông Lê Nhật Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/06/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng mà 02 bên đã ký. Trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, về yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á, Hội đồng xét xử xét:
[2.1] Ngân hàng TMCP Á khởi kiện ông Lê Nhật Q, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh ông Lê Nhật Q có nợ tiền Ngân hàng TMCP Á. Tòa án đã triệu tập ông Lê Nhật Q đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng ông Lê Nhật Q đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông Lê Nhật Q phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng TMCP Á đưa ra.
[2.2] Căn cứ vào văn bản là giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 22 tháng 7 năm 2019 có chữ ký của ông Lê Nhật Q đã cho thấy ông Lê Nhật Q có đề nghị Ngân hàng TMCP Á cấp thẻ tín dụng, Ngân hàng TMCP Á đã chấp nhận cấp thẻ tín dụng cho ông Lê Nhật Q và hạn mức được cấp là 100.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất thỏa thuận. Việc thỏa thuận trên giữa Ngân hàng TMCP Á và ông Lê Nhật Q là phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi được Ngân hàng TMCP Á cấp thẻ, ông Lê Nhật Q đã tiến hành giao dịch. Trong quá trình giao dịch, ông Lê Nhật Q không thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Á theo như hai bên đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng TMCP Á nhiều lần nhắc nhở. Do ông Lê Nhật Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP Á đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Lê Nhật Q5 Ông Lê Nhật Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu ông Lê Nhật Q phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Á với số tiền nợ gốc là 73.044.526 đồng là có cơ sở và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.3] Đối với số tiền nợ lãi: Ông Lê Nhật Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP Á đã áp dụng mức lãi suất mà hai bên đã ký để tính lãi, căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 22 tháng 07 năm 2019, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Á thì ông Lê Nhật Q phải chịu số tiền lãi đến ngày 21 tháng 06 năm 2024 và tiếp tục trả lãi từ ngày 22 tháng 06 năm 2024 trên số tiền nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 22 tháng 07 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong các khoản tiền nợ gốc, lãi là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì ông Lê Nhật Q đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc ông Lê Nhật Q vi phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Ngân hàng TMCP Á. Nay Ngân hàng TMCP Á yêu cầu ông Lê Nhật Q phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Từ những phân tích tại [2.1], [2.2], [2.3] và [2.4] cho thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.
Về án phí:
- Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á về việc yêu cầu ông Lê Nhật Q có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Á.
Buộc ông Lê Nhật Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 144.444.269 đồng, trong đó nợ gốc là 73.044.526 đồng; nợ lãi quá hạn 71.399.743 đồng. Trả 01 (một) lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp ông Lê Nhật Q chậm trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22 tháng 06 năm 2024 cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 22 tháng 06 năm 2019 mà hai bên đã ký.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[2] Về án phí:
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm ông Lê Nhật Q phải chịu là 7.222.213 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ông Lê Nhật Q chưa nộp án phí.
[2.2] Hlại cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 2.920.308 đồng mà Ngân hàng TMCP Á đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007134 ngày 19 tháng 06 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh lập.
[3] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 2641/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2641/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Á Châu - Lê Nhật Quang
