|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 264/2022/HSST
Ngày: 28/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
- Ông Đỗ Văn Hòa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết: Bà Tôn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 230/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 299/TB-TA ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Hà Văn Đ; Tên gọi khác: Đ1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Thuận, Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Hà Văn V (đã chết); Mẹ: Lê Thị Mỹ H (đã chết); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 03/11/2021, TAND thành phố Phan Thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 62/QĐ-TA. Chấp hành xong quyết định ngày 29/6/2023.
Nhân thân:
- Ngày 29/11/2007, TAND tỉnh Bình Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 126/2007/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2009.
- Ngày 21/5/2013, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 80/2013/HSST. Chấp hành án xong hình phạt tù ngày 28/02/2018.
- Ngày 08/10/2019, UBND phường P, thành phố P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 351/QĐ-UBND. Chấp hành xong quyết định ngày 08/01/2020.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Trương Quang T; Tên gọi khác: Q; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Trương Văn T1, sinh năm 1970; Mẹ: Trần Thị T2, sinh năm 1970; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị can là con út trong gia đình; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 14/10/2021, UBND phường P, thành phố P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 1873/QĐ-UBND. Chấp hành xong quyết định ngày 14/01/2022. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ ngày 21/4/2022, Hà Văn Đ đang ở nhà tại khu phố F, phường P, thành phố P cùng với Nguyễn Văn H1 thì có Trương Quang T đến nhà Đ chơi. Một lúc sau, H1 đi ra ngoài mua đồ. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Đ hỏi mượn xe máy của T để đi mua H2 về sử dụng thì T đồng ý. Sau đó, Đ mượn xe của T chạy đến đường hẻm sau lưng nhà thờ L1 thuộc phường L, thành phố P, gặp một người phụ nữ tên thường gọi là “Bé Ý” (không rõ nhân thân) mua 03 tép Heroin đựng trong 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu với giá 280.000 đồng. Mua được ma túy, Đ chạy xe về nhà và đi vào phòng ngủ. Lúc này, T đang ở trong phòng ngủ của Đ. Tại đây, Đ lấy 03 tép ma túy H2 mới mua đưa cho T và nhờ T cất giùm để Đ sử dụng sau. T cầm 03 tép ma túy của Đ đưa rồi lấy giấy bạc của bao thuốc lá gói lại và cất vào trong lỗ cửa bên trái bị bể của phòng ngủ nhà Đ. Sau đó, H1 ở bên ngoài quay về nhà Đ và đi ra nhà vệ sinh ngồi sửa ống nước. Một lúc sau, T nói với Đ là T đi mua ma túy Cần sa về để sử dụng. Sau đó, T chạy xe xuống sau lưng nhà thờ L1, gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân) mua của người này 01 gói cần sa đựng trong gói nylon không màu với giá 50.000 đồng, T mang về để trên ghế nhựa màu đỏ trong phòng ngủ nhà Đ sau đó đi ra ngồi nói chuyện cùng Đ và H1.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P phối hợp với Công an phường P kiểm tra nhà Đ thì phát hiện Đ và T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nên đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa Đ, T, H1 về trụ sở làm việc. Tại đây, Đ và T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói giấy bạc của bao thuốc lá, bên trong có chứa 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, kích thước mỗi đoạn khoảng (0,5×1,5)cm, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa chất bột màu trắng dạng nén; được thu giữ trong lỗ cửa bên trái bị bể của phòng ngủ trong nhà Hà Văn Đ (ký hiệu M1). Đ và T đều khai nhận đó là H2 của Đ đưa cho T cất giấu giúp Đ.
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm 01 ống hút nước, 01 chai nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; được thu giữ trong phòng ngủ của Hà Văn Đ. Đ khai nhận đó là bộ D sử dụng ma túy đá tự chế của Đ.
- - 01 gói nylon không màu, không rõ hình dạng, bên trong chứa thảo mộc khô vụn; được thu giữ trên ghế nhựa màu đỏ để trong phòng ngủ của Hà Văn Đ (ký hiệu M2). T khai nhận đó là Cần sa của T.
Tại Kết luận giám định số 438/KLGĐ-PC09 ngày 29/4/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- - Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,1541 gam, là H2.
- - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,6032 gam, là Cần sa.
H3 lại đối tượng giám định:
- - Các đoạn ống nhựa đã cắt lấy mẫu và 0,1081 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 438/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
- - Gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 438/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B (M đã được sử dụng hết trong công tác giám định).
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm 01 ống hút nước, 01 chai nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, 02 phong bì niêm phong số 438/1 và 438/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết chờ xử lý tiếp theo.
Quá trình điều tra, Hà Văn Đ, Trương Quang T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Đ và T khai mua ma túy về tàng trữ để sử dụng chứ không có mục đích bán cho người khác.
Cáo trạng số 247/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Trương Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ từ 15 tháng đến 21 tháng tù.
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Quang T từ 15 tháng đến 21 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm 01 ống hút nước, 01 chai nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, 02 phong bì niêm phong số 438/1 và 438/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng, không oan, các bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, các vật chứng đã thu giữ và kết luận giám định, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, tại nhà Hà Văn Đ thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, Hà Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,1541 gam ma túy loại Heroin nhằm mục đích sử dụng, Trương Quang T có hành vi tàng trữ trái phép 0,6032 gam ma túy loại Cần sa nhằm mục đích sử dụng và hành vi giúp sức cho Đ tàng trữ trái phép 0,1541 gam ma túy loại Heroin thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hà Văn Đ tàng trữ trái phép trên 0,1 gam ma túy loại Heroin, thuộc trường hợp “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trương Quang T tàng trữ trái phép 02 chất ma túy, căn cứ Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/8/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng được xác định như sau:
- - 0,1541 gam ma túy loại Heroin/5 gam×100% = 3,082%.
- - 0,6032 gam ma túy loại Cần sa/10.000 gam×100% = 0,006%.
- Tổng tỷ lệ % của 02 chất ma túy là: 3,082% + 0,006% = 3,088%.
Tài tàng trữ trái phép 02 chất ma túy mà tổng khối lượng các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do vậy, Cáo trạng số 247/CT-VKS ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Trương Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm với vai trò giản đơn, các bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện, nên đã được Nhà nước quản lý và nghiêm cấm hoạt động tàng trữ, mua bán trái phép và đã ban hành nhiều văn bản, mở các cuộc vận động, tuyên truyền toàn dân tham gia tích cực đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn mua bán, tàng trử và nghiện hút ma túy làm trong sạch xã hội. Thế nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Nhất là trong giai đoạn hiện nay tệ nạn ma túy ngày một lây lan, gây ra những hậu quả, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội và còn là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc thực hiện nhiều loại tội phạm khác.
[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ thì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về mức hình phạt: Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của các bị cáo, xét thấy cần phải xử lý nghiêm và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm, nên mức hình phạt và điều luật áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm 01 ống hút nước, 01 chai nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, 02 phong bì niêm phong số 438/1 và 438/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
[7] Các bị cáo phải nộp tiền án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Hà Văn Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Trương Quang T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm 01 ống hút nước giải khát, 01 chai nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong có thổi phồng một đầu và 02 phong bì niêm phong số 438/1 và 438/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B có chứa số ma túy còn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 42 ngày 04/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đ, bị cáo T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/12/2023 ).
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lưu Triều |
Nơi nhận:
- - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết;
- - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận;
- - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
- - Công an thành phố Phan Thiết;
- - Người tham gia tố tụng;
- - UBND địa phương nơi bị cáo thường trú;
- - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết;
- - Lưu hồ sơ.
Bản án số 264/2022/HSST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 264/2022/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
