|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2023/HS-ST Ngày 28 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lợi và bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Luân, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường A Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 239/2023/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 380/2023/QĐXXST-HS ngày 09/8/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hiếu N, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Ấp D xã P, huyện B, tỉnh Long An; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1968 và con bà Đoàn Thị Thu T, sinh năm 1968; bị cáo có 02 chị em, bị cáo là thứ 2; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 30/3/2023, có mặt.
Bị hại: Chị Đỗ Thị S, sinh năm 1988; thường trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
Người chứng kiến: 1. Bà Nguyễn Thị T1; 2. Ông Cao Đình M, (bà T1, ông M vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Bị cáo Nguyễn Hiếu N và bị hại chị Đỗ Thị S chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2020, khi ở cùng chị S, N thường đưa đón chị S đi làm từ chỗ ở trọ đến quán C địa chỉ khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, sau khi biết N không lo làm ăn, sử dụng ma tuý, hay đánh mình, hàng ngày chị S phải đưa N 200.000 đồng. Ngày 27/3/2023 chị S bỏ đi nơi khác sinh sống không nói cho N biết địa chỉ chỗ ở mới. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A6 màu đen, sim số 0794.444.585 nhắn tin cho chị S với nội dung “tiền tao không thiếu, lấy cho bõ ghét, tiền tao bảo kê mày làm ở quán bà B, mày coi đưa tao sao được thì đưa, còn không tao đăng mày lên Facebook, tao truy sát mày tới già luôn. Còn mày quen thằng giang hồ nào kêu nó ra gặp tao...tao cắt lỗ tai mày đó con chó”. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày 30/3/2023, chị S sau khi đọc tin nhắn từ N đã nhắn tin cho N đến quán C1, địa chỉ số A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương lấy tiền. Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/3/2023, N điều khiển xe mô tô biển số 62N1-829.01 đến quán Điểm H gặp chị S, khi chị S đưa cho N 3.000.000 đồng Nghĩa cầm tiền thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố D bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A6 màu đen, sim số 0794.444.585. 01 xe mô tô nhãn hiệu kiểu dáng Honda Wave Alpha biển số 62N1-82.901. Số tiền 3.000.000 đồng (gồm 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng).
Kết luận giám định 456/KL - KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B thể hiện có 03 cuộc gọi đi, đến, nhỡ từ số điện thoại 0794.444.xxx và số điện thoại 0932.787.xxx từ ngày 27/3/2023 đến ngày 30/3/2023; 23 tin nhắn giữa số điện thoại 0794.444.xxx và số điện thoại 0932.787.xxx từ ngày 27/3/2023 đến ngày 30/3/2023.
Trong đó có một phần tin nhắn có nội dung
- + Vào lúc 6 giờ 56 phút 34 giây ngày 30/3/2023 thể hiện “Tiền tao không thiếu, lấy cho bõ ghét, tiền tao bảo kê mày làm ở quán bà B, mày coi đưa tao sao được thì đưa, còn không tao đăng mày lên Facebook, tao truy sát mày tới già luôn. Còn mày quen thằng giang hồ nào kêu nó ra gặp tao...tao cắt lỗ tai mày đó con chó"
- + Vào lúc 9 giờ 16 phút 45 giây ngày 30/3/2023 thể hiện “Cho tao cái hẹn khi nào có tiền đưa tao im lặng ko tl tao mà gặp mài tao cắt lỗ tay mài đó con chó"
Vật chứng đã xử lý: Trả lại chị Đỗ Thị S 3.000.000 đồng.
Cáo trạng số 248/CT – VKS ngày 11 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hiếu N về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 9 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A6 màu đen; xe mô tô nhãn hiệu kiểu dáng Honda Wave Alpha biển số 62N1-82.901. Tịch thu tiêu huỷ sim số điện thoại mang số 0794.444.xxx.
Bị cáo N không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận ra hành vi sai trái của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Chứng cứ xác định có tội của bị cáo Nguyễn Hiếu N: Bị cáo N và chị Đỗ Thị S chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2020, thời điểm tháng 3/2023 chị S bỏ ra chỗ khác ở, không nói cho N, cũng không cho N biết nơi ở mới. N đã sử dụng điện thoại di động có sim số 0794.444.585 của mình nhắn tin vào số điện thoại của chị S có sim số 0932.787.394 với nội dung “Tiền tao không thiếu, lấy cho bõ ghét, tiền tao bảo kê mày làm ở quán bà B, mày coi đưa tao sao được thì đưa, còn không tao đăng mày lên Facebook, tao truy sát mày tới già luôn. Còn mày quen thằng giang hồ nào kêu nó ra gặp tao... Tao cắt lỗ tai mày đó con chó” “Cho tao cái hẹn khi nào có tiền đưa tao im lặng ko tl tao mà gặp mài tao cắt lỗ tay mài đó con chó”. Do lo sợ, ngày 30/3/2023 chị S hẹn gặp N tại quán cà phê Điểm H đưa tiền. Khi N nhận 3.000.000 đồng từ chị S thị bị bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo Nghĩa là hành vi của tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 248/CT – VKS ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo N tại phiên toà là có căn cứ pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tình tiết trên quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo N có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội.
[6] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo N phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 05 năm tù, bị cáo thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản bị hại Soàn được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ngoài ra xem xét ý thức của bị cáo, khi bị cáo và chị S chung sống như vợ chồng, nhưng khi chị S không đáp ứng yêu cầu của bị cáo, bị cáo đã nhắn tin đe doạ, buộc chị S phải đưa tiền cho mình trong thời gian đưa đón chị S, thể hiện sự ích kỷ của bản thân, lối sống hưởng thụ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[7] Các biện pháp tư pháp:
[7.1] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xét.
[7.2] Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A6 màu đen; xe mô tô biển số 62N1-829.01, số loại Wave Alpha, số máy JA39E2566601, số khung RLHJA3928NY069745 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Riêng sim số điện thoại mang số 0794.444.xxx cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử lý vật chứng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo N có phần nhẹ, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo N mức hình phạt cao hơn so với mức hình phạt đề nghị.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo N phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hiếu N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam 30/3/2023.
2. Các biện pháp tư pháp:
2.1 Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Xe mô tô biển số 62N1-829.01, số loại Wave Alpha, số máy JA39E2566601, số khung RLHJA3928NY069745; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu đen.
Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số điện thoại 0794.444.xxx.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/7/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14
Bị cáo Nguyễn Hiếu N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |
Bản án số 264/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 264/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo N nhắn tin đe doạ chị S để chị S phải đưa 3.000.000 đồng
