|
TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2025/DS- PT Ngày: 18/12/2025. Vv: “Tranh chấp về thừa kế tài sản; yêu cầu hủy GCNQSD đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Các Thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng;
Ông Trần Xuân Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký viên Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức T, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 03 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 27 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6495/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960; địa chỉ: Số F Chợ H, Đặc khu C, thành phố Hải Phòng (trước là số 6/303 Chợ Hàng, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Luật sư Nguyễn Quốc K, Lê Thị Tố U (có mặt); luật sư Hoàng Thị Thanh H1 (vắng mặt) - Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số A V, phường Y, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn P, đặc khu C, thành phố Hải Phòng (trước là Thôn P, xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng); vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số F N, phường Y, thành phố Hà Nội (trước là phường T, quận C, thành phố Hà Nội) đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 10/12/2022); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Anh Đ - Công ty L4, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1943; địa chỉ: Thôn P, đặc khu C, thành phố Hải Phòng (trước là Thôn P, xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947; địa chỉ: Tổ D, Khu G, phường B, tỉnh Quảng Ninh (trước là Tổ D, Khu G, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh); vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguyễn Vũ T1, sinh năm 1945, địa chỉ: Tổ D khu G, phường B, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1954; địa chỉ: Số G đường Đ, phường G, thành phố Hải Phòng (trước là địa chỉ: Số G đường Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1943 (vợ ông T6) và các con là anh Nguyễn Tiến H3, anh Nguyễn Tiến H4; cùng địa chỉ: Số A đường Đ, phường G, thành phố Hải Phòng (trước là số A đường Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng); có mặt anh V1; bà H5 và anh H4 có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị T2 (con bà Y); địa chỉ: Số C U, xã B, thành phố Hải Phòng (trước là Số C U19, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Q (con bà Y), sinh năm 1972; địa chỉ: Số C đường V, phường N, thành phố Hải Phòng (trước là Số C đường V, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Minh H6 (con bà Y); địa chỉ: Số F đường L, phường G, thành phố Hải Phòng (trước là phường M, quận N, thành phố Hải Phòng); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H6: Luật sư Nguyễn Quốc K, Lê Thị Tố U đều có mặt; luật sư Hoàng Thị Thanh H1, vắng mặt - Văn phòng L3, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số A V, phường Y, thành phố Hà Nội.
- + Bà Đặng Thị M, sinh năm 1958 (vợ ông T7) và các con là Nguyễn Tiến Đ1, Nguyễn Tiến V2; cùng địa chỉ: Số C P, phường H, thành phố Hải Phòng (trước là số C P, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng). Anh V2 có mặt, bà M và ánh V1 có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Kim D (con bà M); địa chỉ: Số D N, phường A, thành phố Hải Phòng (trước là số D N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Tiến T3, vợ là chị Phạm Thị T4; chị Nguyễn Thị Thu T5, chồng là anh Mai Quốc H7; chị Nguyễn Thị Thu L2, chồng là anh Nguyễn Duy K1; cùng địa chỉ: Thôn P, đặc khu C, thành phố Hải Phòng (trước là Thôn P, xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh T3, chị T5 và chị L2: Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số F N, phường Y, thành phố Hà Nội (trước là số F N, phường T, quận C, thành phố Hà Nội) đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 10/12/2022); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Số A đường H, đặc khu C, thành phố Hải Phòng (trước là số A đường H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Bố mẹ nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn D1 và cụ Đỗ Thị V3 sinh được 07 người con, ngoài ra các cụ không có con riêng, con nuôi, bố mẹ hai cụ đã chết trước các cụ từ lâu; 07 người con là:
- Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1938 (đã chết năm 2006); có vợ là bà Nguyễn Thị Y và các con là Nguyễn Tiến H3, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Tiến H4 và Nguyễn Thị Minh H6.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1943;
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947;
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950 (đã chết năm 2017); có vợ là bà Nguyễn Thị V và các con là Nguyễn Tiến T3, Nguyễn Thị Thu T5 và Nguyễn Thị Thu L2;
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1954;
- Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1956 (đã chết năm 2022); có vợ là bà Đặng Thị M và các con Nguyễn Thị Kim D, Nguyễn Tiến Đ1 và Nguyễn Tiến V2.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960 (nguyên đơn);
Quá trình chung sống 2 cụ đã tạo dựng được khối tài sản chung là nhà, đất tại thửa đất số 648, tờ bản đồ số 01, diện tích 359m² tại xóm R, thôn P, xã V. Năm 1984, cụ Nguyễn Văn D1 chết và đến năm 1996 cụ Đỗ Thị V3 chết, đều không để lại di chúc. Các con của 2 cụ lớn lên xây dựng gia đình và lần lượt ra ở riêng, chỉ còn lại ông Nguyễn Văn C lấy vợ là bà Nguyễn Thị V ở cùng với bố, mẹ. Năm 2003, ông C tự ý làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: giấy CNQSD đất) đứng tên mình mà không hỏi ý kiến của các anh chị em trong gia đình, mặc dù các anh chị em đều tham gia đóng góp tiền bạc xây dựng lại căn nhà cũ làm nơi thờ cúng và có mặt đầy đủ khi giỗ tết, ngay cả sau khi ông C đã chết năm 2017.
Cuối năm 2021, đầu năm 2022, UBND huyện C tiến hành thu hồi nhà và đất tại thửa 648 để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng khu tái định cư của huyện C, lúc này nguyên đơn mới biết việc ông C đã được cấp giấy CNQSD đất ngày 25/9/2023 đối với diện tích đất trên. Căn cứ giấy CNQSD đất đứng tên ông C, bà V và các con đã đứng ra kê khai nhận tiền bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng và đã được giao 03 lô đất tại khu tái định cư đảo C bao gồm: Lô N1-50 diện tích 200m², Lô N diện tích 98m² Lô N diện tích 98m². Các anh chị em đề nghị vợ, con ông C để lại 100m2 tại lô N1-50 để làm nơi thờ cúng tổ tiên, nhưng
vợ con của ông C không đồng ý. Vì vậy nguyên đơn đại diện cho các anh, chị em khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- Chia di sản thừa kế của cụ D1 và cụ V3 để lại là số tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi nhà, đất là di sản của bố mẹ ông để lại; chia thừa kế 3 lô đất tái định cư mà bị đơn và các con đã được giao sau khi thu hồi đất để xây nhà từ đường.
- Hủy giấy CNQSD đất do UBND huyện C cấp ngày 25/9/2003 cho ông Nguyễn Văn C đối với thửa đất 648; giấy CNQSD đất cấp ngày 05/7/2022 cho bà Nguyễn Thị V đối với thửa đất số 50 tờ bản đồ 01 tại Lốt số 1, lô N và giấy CNQSD đất cho anh Nguyễn Tiến T3, vợ là Phạm Thị T4 đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 5 do UBND huyện C cấp ngày 05/7/2022.
* Bị đơn Nguyễn Thị V thống nhất với nguyên đơn về quan hệ huyết thống, nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 648 tờ bản đồ số 01, thôn P, xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng, đồng thời trình bày thêm:
Thửa đất số 648 là tài sản chung của cụ V3 và cụ D1, trên đất các cụ xây dựng một căn nhà diện tích khoảng 40m² từ năm 1959, chồng bà là ông Nguyễn Văn C và các anh chị em khi còn nhỏ đều sinh sống cùng cha mẹ trên ngôi nhà này, khi lớn lên các anh chị em khác đều được cha mẹ lo công việc và xây dựng gia đình, có chỗ ở riêng. Còn vợ chồng bà sinh sống với cha mẹ trên thửa đất số 648 lo chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, thờ cúng ông bà. Năm 1984, cụ D1 chết, năm 1996 cụ V3 chết, dù các cụ không để lại di chúc gì nhưng khi còn sống hai cụ đã có di nguyên tặng cho vợ chồng bà nhà đất. Do đó năm 2003 ông C đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hải Phòng cấp giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 648, ông H và các anh chị em khác đều biết việc này nhưng không ai có ý kiến gì.
Quá trình sử dụng, do diện tích đất chật hẹp vợ chồng bà đã san lấp thêm đất xung quanh để tăng diện tích và xây dựng thêm công trình. Năm 1994, vợ chồng bà xây dựng bể nước sinh hoạt; năm 2010 - 2011 sửa lại lại nhà chính bị xuống cấp, hư hỏng và xây thêm nhà dưới. Diện tích đất được cấp theo giấy CNQSD đất năm 2003 bao gồm cả đất do cha mẹ chồng bà để lại và đất do vợ chồng bà bồi đắp, mở rộng thêm. Tuy nhiên, việc bồi đắp, mở rộng chỉ có hàng xóm xung quanh chứng kiến chứ không đo đạc cụ thể diện tích bồi đắp, mở rộng bao nhiêu.
Năm 2017, Nhà nước thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu tái định cư Đ nên đã thu hồi toàn bộ 387,5m² đất của gia đình bà (bao gồm 359,0m² theo giấy CNQSD đất và 28,5m² phần chênh lệch khi đo đạc thực tế) cùng công trình, cây cối trên đất. Ủy ban nhân dân huyện C đã bồi thường cho gia đình bà số tiền 2.283.033.000 đồng, trong đó bồi thường về đất là 328.840.000 đồng; vật, kiến trúc, cây cối hoa màu là 1.954.193.000 đồng. Do bà và các con không còn chỗ ở nên Nhà nước bố trí tái định cư theo dạng giao đất có thu tiền sử dụng đất 50 tại khu tái định cư đảo C. Theo đó, bà V đã được cấp giấy CNQSD đất diện tích 200m² đất thuộc Lốt số 1, Lô N- 50 và đã xây dựng ngôi nhà 03 tầng trên thửa đất; anh Nguyễn Tiến T3, vợ là Phạm Thị T4 được giao suất phụ tại Lốt số 35, Lô N (đã được cấp giấy CNQSD đất); chị Nguyễn Thị Thu L2 được giao suất
phụ Lốt số 18, Lô N (chưa được cấp giấy CNQSD đất).
Nay ông Nguyễn Văn H có yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ D1 và cụ V3 để lại và hủy các giấy CNQSD đất thì bà V không đồng ý bởi lẽ:
- - Khi còn sống, cụ D1 và cụ V3 đã cho vợ chồng bà toàn bộ nhà đất để đăng ký kê khai và lo chăm sóc cha mẹ, thờ cúng ông bà.
- - Vợ chồng bà cùng các con đã sinh sống ổn định, lâu dài trên thửa đất của cha mẹ để lại từ trước đến nay không có chỗ ở nào khác; việc Nhà nước thu hồi đất và cấp 03 lô đất tái định cư trên là tài sản phát sinh từ chính sách của Nhà nước đối với người đang cư trú trên đất bị thu hồi, không phải là di sản thừa kế của cụ D1 và cụ V3.
- - Đối với di sản thừa kế của cụ D1 chết năm 1984 đã hết thời hiệu 30 năm; đề nghị Tòa án áp dụng Điều 623, Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định bà và các con có quyền sở hữu đối với phần di sản của cụ D1; phần di sản của cụ V3 là tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi thửa đất 648 thì chia theo luật và có tính công sức của gia đình bà.
- - Toàn bộ nhà cửa, công trình trên đất là do vợ chồng bà cùng các con xây dựng, cây cối trong vườn cũng do vợ chồng bà trồng nên không phải là di sản.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là anh T3, chị T5, chị L2, anh K1, chị T4 đồng ý với ý kiến của bị đơn.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn gồm các đồng thừa kế của cụ D1, cụ V3 hoặc các người thừa kế của họ đồng ý với ý kiến của nguyên đơn.
- - UBND huyện C trình bày: Đối với giấy CNQSD đất cấp cho ông Nguyễn Văn C năm 2003 UBND huyện C đã cung cấp tài liệu để Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, UBND huyện đã vận động thuyết phục các hộ dân có đất bị thu hồi hợp tác, bàn giao mặt bằng sớm để việc triển khai dự án thuận lợi. Đối với Giấy CNQSD đất cấp cho bà V và Giấy CNQSD đất cấp cho anh T3 và chị T4 năm 2022 đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục cấp theo quy định. Tuy nhiên UBND huyện C sẽ chấp hành mọi phán quyết của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải trong vụ án liên quan đến các Giấy CNQSD đất đã cấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 27 tháng 09 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 3 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 643, 651, 659, 660 của Bộ luật Dân sự 2015; các điều 83 và 87 Luật đất đai 2013; Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc
chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn D1 và cụ Đỗ Thị V3 theo pháp luật;
- Giao cho các ông, bà Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị P; vợ các con ông T6 là Nguyễn Thị Y, Nguyễn Tiến H3, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Tiến H4 và Nguyễn Thị Minh H6; vợ và các con ông T7 là Đặng Thị M, Nguyễn Thị Kim D, Nguyễn Tiến Đ1 và Nguyễn Tiến V2 nhận chung phần di sản thừa kế là 246.630.000 đồng (ông H đại diện nhận thay).
- Giao cho bà Nguyễn Thị V và các con là Nguyễn Tiến T3, Nguyễn Thị Thu T5 và Nguyễn Thị Thu L2 nhận chung phần di sản thừa kế là 81.722.000 đồng.
- Do bà V đang quản lý toàn bộ số di sản này nên buộc bà Nguyễn Thị V có trách nhiệm giao lại số tiền 246.630.000 đồng cho ông H nhận thay các người thừa kế khác có tên tại mục 1.1.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà V chưa trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định di sản thừa kế và chia theo luật đối với 3 lô đất tái định cư Lô N diện tích 200m², Lô N và Lô N1-49 cùng diện tích 98m² tại Khu TĐC xã V, huyện C, TP và hủy giấy CNQSD đất do UBND huyện C cấp ngày 25/9/2003 cho ông Nguyễn Văn C đối với thửa đất 648; giấy CNQSD đất cấp ngày 05/7/2022 cho bà Nguyễn Thị V đối với thửa đất số 50 tờ bản đồ 01 tại Lốt số 1, lô N và giấy CNQSD đất cho anh Nguyễn Tiến T3, vợ là Phạm Thị T8 đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 5 do UBND huyện C cấp ngày 05/7/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.
- Ngày 01/10/2024, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Tiến H3, anh Nguyễn Tiến H4, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Minh H6, bà Đặng Thị M, anh Nguyễn Tiến Đ1, anh Nguyễn Tiến V2, chị Nguyễn Thị Kim D có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
- Ngày 10/10/2024, bị đơn là bà Nguyễn Thị V có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm đề nghị xem xét lại đối với thời hiệu khởi kiện với yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn D1.
- Ngày 07/8/2025 bị đơn là bà Nguyễn Thị V có văn bản rút toàn bộ đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (đứng về phía nguyên đơn) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, của chị
Nguyễn Thị Minh H6 và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L2 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Xác định 03 thửa đất tái định cư là di sản thừa kế, trích 100m² đất tại Lô N (diện tích 200m²) để các đương sự xây nhà từ đường, chia thừa kế bằng giá trị còn lại của 03 lô đất tái định cư theo pháp luật cho các thừa kế.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, giữ nguyên bản án sơ thẩm; đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị đơn do bị đơn đã rút đơn kháng cáo.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đánh giá các yêu cầu kháng cáo của các đương sự, có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị đơn do bị đơn đã rút đơn kháng cáo; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H, bị đơn là bà Nguyễn Thị V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Tiến H3, anh Nguyễn Tiến H4, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Minh H6, bà Đặng Thị M, anh Nguyễn Tiến Đ1, anh Nguyễn Tiến V2, chị Nguyễn Thị Kim D có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Xét thấy đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp, trong thời hạn, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên kháng cáo của các đương sự là hợp lệ và được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Do ngày 07/8/2025 bị đơn là bà Nguyễn Thị V có văn bản rút toàn bộ đơn kháng cáo nên Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị V theo quy định tại khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Toà án cấp sơ thẩm đã xác định chính xác quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại tại khoản 5 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đã xác định đúng và đủ các đương sự trong vụ án.
[4] Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã triệu tập hợp lệ các đương sự. Tuy nhiên, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên toà. Do đó,
Hội đồng xét xử căn cứ quan điểm của Kiểm sát viên, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của các đương sự có mặt tại phiên tòa và quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt họ.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy: Cụ Nguyễn Văn D1 và cụ Đỗ Thị V3 sinh được 07 người con có tên, tuổi, địa chỉ, nơi cư trú và hoàn cảnh gia đình như nguyên đơn, bị đơn đã trình bày. Cụ D1 chết năm 1984 và cụ V3 chết năm 1996 (không để lại di chúc). Khi còn sống, hai cụ sinh sống tại nhà, đất thuộc thửa đất số 648, tờ bản đồ số 01, diện tích 359m² (đo thực tế là 387,5m²), địa chỉ: Xóm R, thôn P, xã V; 06 người con của 2 cụ lớn lên lần lượt đi xây dựng gia đình và ra ở riêng, chỉ còn lại vợ chồng ông C và các con vẫn ở cùng hai cụ và trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất, thờ cúng gia tiên. Ngày 25/9/2003, ông C tự kê khai và được UBND huyện C cấp giấy CNQSD đất đứng tên ông C đối với thửa đất 648, năm 2017 ông C chết không để lại di chúc.
[6] Năm 2020, UBND huyện C thu hồi thửa đất số 648 nêu trên để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng khu tái định cư của huyện C; bà V và các con đã kê khai, nhận tiền bồi thường về đất là 328.840.000 đồng; bồi thường về vật kiến trúc, cây cối, hoa màu là 1.954.193.000 đồng. Ngoài ra, gia đình bà V còn được UBND huyện C xét duyệt giao cho 03 lô đất tái định cư, gồm: 200m² (hộ chính – bà V) tại Lô N; vợ chồng anh T3 nhận Lô N (hộ phụ) và vợ chồng chị L2 được giao Lô N (hộ phụ) cùng diện tích 98m². Người được giao đất tái định cư phải nộp tiền sử dụng đất.
[7] Phía nguyên đơn khai đã khiếu nại nhiều lần yêu cầu xác định nhà, đất tại thửa 648 là của chung các đồng thừa kế nhưng UBND huyện C không giải quyết. Sau khi bà V nhận tiền bồi thường và cùng các con nhận đất tái định cư, nguyên đơn đại diện cho các anh chị em đề nghị mẹ con bà V để lại 100m² tại lô N1-50 xây từ đường để thờ cúng tổ tiên nhưng không được bị đơn chấp nhận, nên đã khởi kiện yêu cầu tòa án chia thừa kế đối với số tiền bị đơn đã nhận bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; chia thừa kế 3 lô đất tái định cư mà bị đơn và các con đã được giao sau khi thu hồi đất để xây nhà từ đường; đồng thời đề nghị hủy giấy CNQSD đất đã cấp cho ông C năm 2003, hủy giấy CNQSD đất đã cấp cho bà V và vợ chồng anh T3.
[8] Xét kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đứng về phía nguyên đơn.
[8.1] Đối với công trình xây dựng, vật kiến trúc trên đất.
Nguyên đơn cho rằng tài sản của cụ D1, cụ V3 xây dựng trên đất là nhà cấp 4 và công trình phụ xây dựng từ năm 1959, đến năm 2010 các con cùng góp tiền sửa lại làm nơi thờ cúng chung, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cứng minh về việc đóng góp tiền; bị đơn cho rằng nhà của các cụ đã hư hỏng, xuống cấp nên năm 2010 gia đình ông C đã phá đi xây dựng mới để ở và làm nơi thờ cúng, các anh chị em không ai đóng góp tiền bạc, công sức. Xét thấy: Đối với căn nhà cấp 4 hai cụ tạo lập từ năm 1959, tính đến năm 2010 khi gia đình ông C phá dỡ, xây lại đã hơn 50 năm; theo Thông tư 23/2023/TT-BTCngày 25/4/2023 của Bộ T9 quy định về chế độ quản lý, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức. Theo đó, thời gian tính hao mòn và tỷ lệ hao mòn tài sản cố định
nhà cấp 4 là 15 năm; theo quy định của UBND thành phố H về bồi thường đối với các công trình xây dựng khi thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng (hạn sử dụng nhà cấp 4 tối đa là 40 năm), thì cũng đã hết khấu hao. Mặt khác, khi gia đình ông C phá dỡ, xây dựng lại vào năm 2010 và các anh chị em trong gia đình đều biết nhưng không ai có ý kiến phản đối, tranh chấp; phía nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc cùng đóng góp tiền cho ông C xây lại nhà và bị đơn không thừa nhận việc này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho rằng một phần nhà và công trình xây dựng trên đất là di sản do các cụ để lại để chia thừa kế (do không còn và nếu có còn thì cũng đã hết khấu hao) và xác định số tiền Nhà nước bồi thường về vật kiến trúc, cây cối, hoa màu trên đất là 1.954.193.000 đồng thuộc sở hữu của gia đình bà V là đúng.
[8.2] Đối với yêu cầu xác định 03 lô đất gia đình bà V được giao để tái định cư là di sản thừa kế và trích 100m² đất tại Lô N (diện tích 200m²) để các đương sự xây nhà từ đường, chia thừa kế bằng giá trị còn lại của 03 lô đất tái định cư theo pháp luật cho các thừa kế.
Theo quy định tại Điều 83, Điều 86 và Điều 87 Luật Đất đai năm 2013, Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất...; trong đó phân biệt 2 trường hợp: Hộ chính (hộ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và hộ phụ (sống cùng gia đình hộ chính theo nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi). Như vậy, việc Nhà nước cấp đất tái định cư nhằm tạo điều kiện về chỗ ở cho người đang sinh sống trên đất, bị tác động bởi quyết định hành chính về việc thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác. Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự đều thể hiện gia đình bà V và các con là người sinh sống tại thửa đất số 648, các đương sự khác trong vụ án không ai ở trên đất tại thời điểm thu hồi đất nên không thuộc trường hợp được cấp đất tái định cư, vì vậy không có quyền với đất tái định cư và đất tái định cư. Mặt khác, theo quy định của UBND thành phố H đối với Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu tái định cư C tại xã V thì việc giao đất tái định cư cho hộ chính là 200m², hộ phụ là 98m² là việc giao đất có thu tiền sử dụng đất. Thực tế gia đình bị đơn chỉ được nhận tiền bồi thường về đất là 328.840.000 đồng; trong khi đó, để được Giấy CNQSD đất đối với đất tái định cư được giao bà V đã phải nộp số tiền 613.800.000 đồng, vợ chồng anh T3 chị T4 đã phải nộp tiền 324.086.400 đồng (vợ chồng chị L2, anh K1 chưa có tài liệu thể hiện đã nộp tiền sử dụng đất và đã được cấp Giấy CNQSD đất). Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định 03 lô đất tái định cư Nhà nước giao cho gia đình bà V có thu tiền không phải là tài sản
chuyển hóa từ đất di sản đã bị thu hồi, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định 03 lô đất tái định cư là di sản thừa kế để phân chia cho các đồng thừa kế, không chấp nhận yêu cầu huỷ giấy CNQSD đất cấp tái định cư cho bà V và vợ chồng anh T3, chị T4 là đúng pháp luật.
[8.3] Đối với việc cấp giấy CNQSD đất số E 0139573 ngày 25/8/2003 đứng tên ông Nguyễn Văn C: Tài liệu, chứng cứ thu thập được thể hiện sau khi cụ D1 và cụ V3 chết (không để lại di chúc), ông C đã tự ý kê khai xin cấp giấy CNQSD đất, không có tài liệu chứng minh có sự đồng ý của các đồng thừa kế khác là vi phạm quy định tại Điều 639 Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó việc UBND xã V xác nhận vào đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông C năm 2003 để trình UBND huyện C cấp giấy CNQSD đất cho ông C là không đúng quy định tại các Điều 49, 50 Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Tuy nhiên, hiện giấy CNQSD đất này đã bị UBND huyện C thu hồi trong quá trình tiến hành thủ tục thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với thửa đất 648 năm 2020 nên không còn giá trị pháp lý. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định: “Việc xem xét huỷ giấy CNQSD đất trong trường hợp này là không cần thiết” là có căn cứ.
[8.4] Về xác định, phân chia di sản thừa kế là tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định: Số tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng là 328.840.000 đồng sẽ được chia làm 08 phần, trong đó gồm 07 thừa kế và 01 phần là công sức quản lý, tôn tạo đất của gia đình bị đơn, nên mỗi phần là 41.105.000 đồng. Phần của ông T6 chia cho vợ là bà Y và 05 con của họ, mỗi người được 6.850.000 đồng; phần của ông T7 chia cho vợ là bà M và 03 con của họ, mỗi người 10.276.000 đồng; bà V và 03 con nhất trí nhận chung 2 suất x 41.105.000 đồng = 82.210.000 đồng (mỗi người được hưởng 20.552.000 đồng). Theo thỏa thuận của các đương sự: Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn giao cho ông H đại diện nhận thay; Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn giao cho bà V đại diện nhận thay. Do bà V là người đang quản lý số tiền 328.840.000 đồng được xác định là di sản thừa kế nên có nghĩa vụ thanh toán trả cho phía nguyên đơn (do ông H đại diện) nhận chung 246.630.000 đồng. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nêu trên là đúng với quy định của Bộ luật Dân sự về việc chia thừa kế, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo.
[9] Với những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự, việc giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên, của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên tòa là có căn cứ và cần thiết.
[10] Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo. Do kháng cáo không được chấp nhận và tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người
kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định; miễn án phí dân sự phúc thẩm cho các ông bà: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Y, bà Đặng Thị M do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị V.
II. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Tiến H3, anh Nguyễn Tiến H4, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Minh H6, bà Đặng Thị M, anh Nguyễn Tiến Đ1, anh Nguyễn Tiến V2, chị Nguyễn Thị Kim D.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 27 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho các ông bà: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Y, bà Đặng Thị M;
- Anh Nguyễn Tiến H3, anh Nguyễn Tiến H4, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị Minh H6, anh Nguyễn Tiến Đ1 và anh Nguyễn Tiến V2, chị Nguyễn Thị Kim D, chị Nguyễn Thị Q mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Đối trừ với số tiền đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại các Biên lai thu số 0000780, 0000781, 0000782, 0000783, 0000784, 0000785, 0000786 ngày 21/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng), các anh/chị có tên nêu trên đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |
Bản án số 264/2025/DS- PT ngày 18/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 264/2025/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu huỷ GCNQSDĐ
