Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 264/2025/DS-PT

Ngày: 10-6-2025

V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ Văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường

Các Thẩm phán: ông Lê Văn Thường

ông Đặng Kim Nhân

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 305/2024/TLPT-DS ngày 02/12/2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ Văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1480/2025/QĐ-PT ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, sinh năm 1985; địa chỉ: K đường N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thành Đ, Đinh Xuân L - Công ty TNHH H12 thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ; địa chỉ: 5 T, quận H, thành phố Đà Nẵng (LS Đá có mặt, LS L vắng mặt).

  1. Bị đơn: ông Trần Văn C, sinh năm 1979; địa chỉ: K đường N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn P - Công ty L9 và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ; địa chỉ: H H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; địa chỉ: G đường N,quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1937; địa chỉ: H đường M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    3. Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1948; địa chỉ: 1 đường N, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    4. Bà Nguyễn Thị Phương M, sinh năm 1966; địa chỉ: K đường N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
    5. Bà Nguyễn Hoàng Thanh T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    6. Ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, sinh năm 1989; Địa chỉ: K đường N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    7. Ông Trần Văn T4, sinh năm 1984; địa chỉ: 5 đường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    8. Bà Trần Thị Hồng H; địa chỉ: K đường N, tô B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    9. Bà Trần Thị M3, sinh năm 1961; địa chỉ: K đường P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    10. Bà Trần Thị T5, sinh năm 1958; địa chỉ: C đường Đ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    11. Ông Trần Văn P1, sinh năm 1965; địa chỉ: H đường M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    12. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1970, địa chỉ: H đường M,phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    13. Ông Trần Minh N, sinh năm 1976; địa chỉ: 53/32 đường L, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    14. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1976; địa chỉ: T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    15. Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1970; địa chỉ: A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    16. Bà Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1969; địa chỉ: A đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    17. Bà Nguyễn Thị Kiều H2; địa chỉ: A đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    18. Bà Nguyễn Thị Kiều N1; địa chỉ: 1 đường Đ, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    19. Bà Nguyễn Thị Kiều N2, sinh năm 1972; địa chỉ: K L, quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    20. Bà Trần Thị H, sinh năm 1963; trú tại: tổ F phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    21. Bà Châu Thị T7, chị Trần Thị Thảo V và chị Trần Thị Thảo M1; cùng địa chỉ: 0 đường M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    22. Chị Huỳnh Thị Hiền P2, sinh năm 1995 và anh Huỳnh Tấn H3, sinh năm 2000; cùng địa chỉ: 0 đường M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
    23. Bà Bùi Thị Thanh T8, sinh năm 1959, anh Trần Nhật N3, sinh năm 1982 và chị Trần Thị Thùy L2, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: Khu B, Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt;
    24. Bà Nguyễn Thị Thanh L3, sinh năm 1963, anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1984, anh Nguyễn Văn Minh V1, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị Thùy H5, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: 4 đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, (chị H5 có mặt, còn lại vắng mặt);
    25. Bà Nguyễn Thị Ngọc H6, sinh năm 1963, ông Nguyễn Ngọc P3, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Ngọc H7, sinh năm 1967; cùng địa chỉ: 6 tổ D, Ấp A, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;
    26. Chị Nguyễn Hoàng Thanh T9; địa chỉ: K đường N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt;
    27. Bà Nguyễn Thị Lệ H8, sinh năm 1975; địa chỉ: Chung cư Q, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;
    28. UBND quận H, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: B T, quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt;
    29. UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt;
    30. Ông Trần Nhân Khắc T10, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ D, phường Y, quận T, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt;
    31. Bà Đào Thị Vân H9, sinh năm 1978, cháu Trần Ngọc Như Ý, sinh năm 2017 và cháu Trần Ngọc Khắc T11, sinh năm 2023.

Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Ngọc Như Ý và cháu Trần Ngọc Khắc T11 là ông Trần Văn C, sinh năm 1979; trú tại: K đường N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt;

  1. Văn phòng C5; địa chỉ: A đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;
  2. Văn phòng C6, địa chỉ: số B khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt;

Người kháng cáo: Nguyễn Hoàng Thanh Q, Nguyễn Thị Phương M, Nguyễn Hoàng Thanh T9, Nguyễn Hoàng Thanh T3, Nguyễn Hoàng Thanh T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q trình bày:

Sinh thời cụ Nguyễn Hòe sinh 1 (chết 1968) và cụ Trần Thị B, sinh 1923 (chết 1972) có 02 người con chung là ông Nguyễn Ú (chết năm 2020) và bà Nguyễn Thị T. Ông Nguyễn Ú có vợ là bà Nguyễn Thị Phương M, sinh được 04 người con là Nguyễn Hoàng Thanh T2, Nguyễn Hoàng Thanh Q, Nguyễn Hoàng Thanh T3 và Nguyễn Hoàng Thanh T9. Cụ Trần Thị B còn có 02 người con riêng là bà Nguyễn Thị T12 sinh 1956 (chết 2014); ông Lê Phước P4, sinh 1951 (chết 2017), ông P4 có vợ chết trước ông P4 và không có con. Bà Nguyễn Thị T12 có chồng, con như thế nào ông không biết.

Trước khi kết hôn với cụ Trần Thị B thì cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị S, sinh 1914 (chết 1954) có với nhau 05 người con chung là bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn L4. Còn việc các ông bà có vợ hoặc chồng, con cái như thế nào thì ông không xác định được nên ông yêu cầu những người được hưởng phần di sản thừa kế di sản theo pháp luật của ông bà nội phải chứng minh được quan hệ huyết thống của mình.

Nay ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết: chia thừa kế tài sản của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B là nhà và đất tại địa chỉ K đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 do Uỷ ban nhân dân (UBND) quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 đứng tên bà Nguyễn Thị T là người thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn H10 (chết) và bà Trần Thị B (chết) theo Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND phường H chứng thực; số chứng thực 440, quyển số 01/2022-SCT/CK, ĐC ngày 14/11/2022. Ông Nguyễn Hoàng Thanh Q có nguyện vọng được nhận nhà, đất và tự nguyện thối trả cho các con cháu của cụ H10, cụ B theo quy định của pháp luật. Ông Q cho rằng chi phí nộp thuế để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ mà bà Nguyễn Thị T đứng tên đại diện là khoảng 24.000.000 đồng.

  1. Bị đơn là ông Trần Văn C trình bày:

Ông thống nhất với hàng thừa kế mà nguyên đơn trình bày, đồng thời ông bổ sung thêm: Cụ Nguyễn H10 có vợ lớn là cụ Trần Thị S có 05 người con chung: bà Nguyễn Thị C1 (Dậu, chết 2012), bà Nguyễn Thị B1 (chết 2024), bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn L4 (chết 1979). Trong đó, bà Nguyễn Thị C1 (Dậu, chết 2012) có chồng ông Trần Văn M2 (chết 1981), sinh được 08 người con gồm: bà Trần Thị T5, bà Trần Thị M3, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn P1, ông Trần Minh N, ông Trần Văn Q1 (chết 2018), bà Trần Thị N4 (Trần Thị L5, chết 2006), ông Trần Văn T13 (chết 2011) và 01 người con nuôi của bà C1 (D1) và ông M2 là bà Trần Thị H, sinh năm 1963; trú tại: tổ F phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Ông Trần Văn Q1 (chết 2018) có vợ bà Châu Thị T7, sinh được 02 người con: chị Trần Thị Thảo V, chị Trần Thị Thảo M1; cùng địa chỉ 0 đường M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị N4 (Trần Thị L5, chết 2006, chết sau bà Nguyễn Thị C1 (D), ông Trần Văn M2) nên bổ sung hàng thừa kế thế vị con của bà Trần Thị N4 là chị Huỳnh Thị Hiền P2, sinh năm 1995 và anh Huỳnh Tấn H3, sinh năm 2000; cùng địa chỉ: 0 đường M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Ông Trần Văn T13 (chết 2011) có vợ Bùi Thị Thanh T8, sinh năm 1959 có 02 người con là anh Trần Nhật N3, sinh năm 1982 và chị Trần Thị Thùy L2, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: Khu B, Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Bà Nguyễn Thị B1 (chết 2024) có chồng chết trước bà B1 sinh được 03 con chung là bà Nguyễn Thị Ngọc H6, sinh năm 1963, Nguyễn Ngọc P3, sinh năm 1965, bà Nguyễn Thị Ngọc H7; cùng địa chỉ: 6 tổ D, Ấp A, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn L4 (chết 1979) có vợ bà Trương Thị N5 (chết 2022) sinh được 07 người con gồm ông Nguyễn Văn S1 (chết 2011), bà Nguyễn Thị Kiều N1, bà Nguyễn Thị Kiều H2, bà Nguyễn Thị Kiều D, ông Nguyễn Văn T6, ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị Kiều N2. Ông Nguyễn Văn S1 (chết 2011) có vợ Nguyễn Thị Thanh L3, sinh năm 1963 có 03 người con chung: anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1984, anh Nguyễn Văn Minh V1, sinh năm 1987, chị Nguyễn Thị Thùy H5, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: 4 đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Cụ Nguyễn H10 có vợ nhỏ là cụ Trần Thị B (chết 1972), có 02 người con chung, trong đó ông Nguyễn Ú (chết 2020) có vợ Nguyễn Thị Phương M, sinh được 04 người con chung như ông Q trình bày. Cụ Trần Thị B còn có 02 người con riêng: bà Nguyễn Thị T12 (chết 2014) và ông Lê Phước P4 (chết 2017), có vợ là Phan Thị Thu Đ1 chết trước ông P4 và không có con chung. Bà Nguyễn Thị T12 (chết 2014) có chồng Trần Nhân Khắc T10 có 03 con chung gồm ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hồng H, ông Trần Văn T4. Bà Nguyễn Thị T12 còn có 01 người con riêng: bà Nguyễn Thị Lệ H8, sinh năm 1975; địa chỉ: Chung cư Q, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông xác định bà Nguyễn Thị T12 (mẹ ông) và ông Lê Phước P4 (cậu ông) từ nhỏ

đến giờ không nghe ai nói gì về chuyện con nuôi hay con ruột của cụ H10 và cụ B. Ông không có giấy tờ chứng minh, ông chỉ biết ông sống từ nhỏ với ba mẹ, ông bà ngoại và cậu ông. Ông sống từ nhỏ đến lớn tại nhà và đất trên với ba mẹ. Ông không có nhận số tiền 30.000.000 đồng từ bà Nguyễn Thị T hay bà Nguyễn Thị Phương M. Do đó, ông đề nghị Tòa án chia đều cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị T trình bày:

Thống nhất với ý kiến trình bày về hàng thừa kế mà nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và ông Trần Văn C trình bày. Bà là con của cụ H10 và cụ B. Bà Nguyễn Thị T12 và ông Lê Phước P4 là con riêng của bà Nguyễn Thị B2 đem về nuôi. Sinh thời ba bà là cụ Nguyễn H10 có vợ là cụ Trần Thị S có 05 người con. Sau khi cụ S chết thì ba bà lấy mẹ bà là cụ Trần Thị Bảy S2 ra bà và ông Ú. Trước đây, bà Nguyễn Thị T1 có yêu cầu chia nhà và đất thì bà có nói nhà để anh chị ở và có ý kiến để 07 phần cho gia đình ông Ú ở, còn 03 phần cho các con của đời trước cùng bà T12 và ông P4. Năm 2020, bà T1 nói thối trả một phần 50.000.000 đồng nhưng không ai có tiền, một năm sau đại diện mỗi gia đình gồm bà T1, bà R, ông L1 (con ông L4), bà B1, bà T5 (con bà C1) nhận 30.000.000 đồng để từ chối nhận di sản thừa kế do cụ H10 để lại và để bà Nguyễn Thị T là người đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ. Bà xác nhận số tiền 30.000.000 đồng đưa cho các hàng thừa kế của cụ H10 và cụ S là do bà Nguyễn Thị Phương M đưa tiền cho bà để giao cho họ. Bà xác nhận ông Nguyễn Hoàng Thanh Q là người nộp thuế để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Đối với kỷ phần thừa kế của bà được hưởng từ cụ H11, cụ B2 thì bà tặng toàn bộ cho ông Q được nhận.

  1. Bà Nguyễn Thị R trình bày:

Bà thống nhất với ý kiến trình bày về hàng thừa kế mà nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và ông Trần Văn C trình bày. Bà là con của cụ H10 và cụ S. Từ nhỏ bà đã sống với ba mẹ tại địa chỉ K đường N. Sau khi mẹ bà mất thì cha bà lấy bà B2, có mua thêm một phần đất phía sau nên bà khẳng định đây là di sản do cụ H10, cụ B2, cụ S để lại, không phải của riêng cụ H10 và cụ B2. Bà biết được bà Nguyễn Thị T12 và ông Lê Phước P4 là con riêng của bà Trần Thị B. Bà xác nhận có nhận từ bà T 30.000.000 đồng với nội dung giao lại nhà và đất cho ông Ú và bà M ở để làm nhà thờ, không được bán, tặng cho. Tại thời điểm bà ký giấy thỏa thuận thì bà không đọc văn bản, nên bà thay đổi ý kiến xin được nhận kỷ phần thừa kế theo quy định của pháp luật và không từ chối nhận kỷ phần đó nữa.

  1. Ông Nguyễn Văn T6 trình bày yêu cầu độc lập:

Ông xác nhận nhân thân, lai lịch và hàng thừa kế của cụ H11, cụ S, cụ B mà ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và ông Trần Văn C trình bày. Ba ông là ông Nguyễn Văn L4 là con của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị S. Khi còn nhỏ ông có nghe ba ông nói sau khi bà nội mất thì ông nội lấy cụ Trần Thị B. Cụ H10 và cụ B có 02 người con chung là ông Nguyễn Ú và bà Nguyễn Thị T. Cụ B đưa 02 người con riêng của cụ B là bà T12 và ông P4 về ở cùng. Sinh thời, cụ H10 và cụ S có tạo lập được nhà và đất tại K15/22 N. Sau đó cụ S chết, cụ H10 lấy cụ B và mua thêm 10m2 đất phía sau. Từ nhỏ con của 2 đời và con riêng của cụ B đều sống chung với nhau. Sau này lớn lên ra riêng chỉ còn gia đình ông Ú và bà T12 sống tại nhà và đất trên. Ông thừa nhận bà T1, bà R, ông L1 (con ông L4), bà B1, bà T5 (con bà C1) đã nhận 30.000.000 đồng để từ chối nhận di sản thừa kế do ông H10 để lại và để bà Nguyễn Thị T là người đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ. Ông không đồng ý với tài sản trên là của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B và được UBND quận H cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 927068 ngày 02/03/2023, đứng tên bà Nguyễn Thị T là người đại diện theo pháp luật, nên ông yêu cầu hủy sổ để đảm bảo quyền lợi cho các hàng thừa kế trong gia đình ông nên ông có yêu cầu độc lập: hủy Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND phường H chứng thực; số chứng thực 440, quyển số 01/2022-SCT/CK, ĐC ngày 14/11/2022; hủy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068; số vào sổ cấp GCN: CH 00673 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 đứng tên bà Nguyễn Thị T là người thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn H10 (chết) và cụ Trần Thị B (chết) theo Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND phường H chứng thực; số chứng thực 440, quyển số 01/2022-SCT/CK, ĐC ngày 14/11/2022.

  1. Bà Nguyễn Thị Kiều N1, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Kiều N2 và Nguyễn Thị Kiều H2 trình bày:

Các bà xác nhận nhân thân, lai lịch và hàng thừa kế của cụ H11, cụ S, cụ B mà ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và ông Trần Văn C, ông Nguyễn Văn T6 trình bày. Bà Nguyễn Thị Kiều D, bà Nguyễn Thị Kiều N1, bà Nguyễn Thị Kiều H2 xác nhận ông Nguyễn Văn L1 là người đại diện của gia đình đứng ra nhận số tiền 30.000.000 đồng từ bà Nguyễn Thị T nhưng ông L1 không đưa lại cho các bà nên các bà yêu cầu được chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Kiều D là bà Trần Thị Thu T14 cho rằng: trong thời kỳ hôn nhân cụ H10 và cụ S tạo lập được căn nhà 53,6m2 nay là địa chỉ K đường N, thành phố Đà Nẵng vào những năm 1950. Tuy nhiên toàn bộ

giấy tờ bị thất lạc nhưng chứng cứ là nhiều người xác nhận năm 1954, cụ S chết tại nhà đất này, chứng tỏ cụ H10 và cụ S đã tạo lập nhà đất trước năm 1954. Sau khi cụ S chết, cụ H10 kết hôn với cụ Trần Thị B, ngày 15/12/1959 hai cụ mua thêm 10m2 đất phía sau nhà, tổng cộng nhà đất có diện tích 63,6m2. Việc mua thêm đất thể hiện diện tích đất 10m2 hình tam giác sau nhà (Văn bản đoạn mãi đất ngày 15/12/1959). Như vậy tài sản chung của cụ H10 và cụ S là 53,6m2 nhà đất, còn tài sản chung của cụ H10 và cụ B là 10m2 nhà đất. Căn cứ để bà đưa ra lập luận như vậy vì các lý do sau: thứ nhất, theo Bản án số 137 ngày 10/11/1966 của Tòa sơ thẩm Quảng Nam- Đà Nẵng thì cha bà D là ông Nguyễn Văn L4 kết hôn với mẹ bà D là bà Trương Thị N6 vào ngày 10/01/1960 tại Hải Châu Đ, nghĩa là trước thời điểm này ông bà nội (Cụ H10, cụ S và cha bà D (ông L4) đã có nhà ở tại H; thứ hai, văn tự đoạn mãi đất ngày 15/12/1959 có nội dung mua diện tích đất 10m2, đất hình tam giác, căn cước cụ B cấp ngày 20/8/1955 tại Thừa Thiên Huế nên cụ không phải là người ở H; thứ ba là giấy xác nhận nhân chứng ngày 07/7/2023 và Vi bằng lập ngày 07/7/2023 đều khẳng định cụ S ở nơi đây. Điều đó khẳng định nhà đất tại K đường N có trước khi cụ H10 và cụ B mua thêm 10m2 đất. Bà không thống nhất kết quả định giá tài sản do Tòa án trưng cầu. Như vậy, nhà đất trên cụ H10 và cụ S3 (chiếm 84,28%), gấp 05 lần tài sản chung của cụ H10 và cụ B (15,7%) nhưng UBND phường H 2 không hướng dẫn các đương sự tranh chấp và mà dựa vào hồ sơ thiếu sót để xác nhận vào văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận để bà Nguyễn Thị T (con của cụ H10 và cụ B) đại diện đứng tên làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế khác. Đề nghị chia di sản thừa kế cho 05 anh em ruột bà D với tư cách là cháu nội của cụ H10 và cụ S, riêng ông Nguyễn Văn L1 đã nhận 30.000.000 đồng nên không chia nữa. Việc chia cụ thể thế nào đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án những vấn đề sau: Rà soát đưa những người thừa kế của 03 cụ trước đây đã nhận tiền thì không chia lại một lần nữa, phần của những người này sau khi trừ cho việc thanh toán cho người đã tạm ứng trước đây còn lại chia thừa kế, xác định di sản thừa kế theo tỉ lệ nêu trên. Hủy văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ ; hủy GCNQSDĐ đứng tên bà Nguyễn Thị T; chia thừa kế cho 05 chị em bà Nguyễn Thị Kiều D theo quy định của pháp luật; thu thập các tài liệu liên quan đến nhà đất tranh chấp do trước đây bà T mượn để làm giấy tờ đất.

  1. Bà Nguyễn Thị Phương M trình bày:

Bà thống nhất với ý kiến trình bày về hàng thừa kế mà nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và ông Trần Văn C trình bày. Bà và ông Ú lấy nhau năm 1983 nhưng do gia đình đông và phức tạp nên không sống ở K15/22 N mà đến năm 1983 mới về sống. Khi về sống thì bà thấy có gia đình bà T12 và ông P4

sống trên nhà và đất này. Năm 2020, bà nhờ bà T giao cho ông L1 30.000.000 đồng và ông L1 giao hồ sơ cho bà, lúc này bà mới biết được nhà và đất này do cụ H10 và cụ B đứng tên. Hiện nay nhà và đất nói trên có bà cùng 03 người con và gia đình ông Trần Văn C đang sinh sống. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà không đồng ý để nhà và đất tại K N là nhà thờ tự, đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật và xem xét công sức bảo quản di sản của vợ chồng bà từ năm 1983 cho đến nay. Đối với phần trích công sức bảo quản di sản của vợ chồng bà và kỷ phần thừa kế được hưởng từ ông Ú bà tặng toàn bộ cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q.

  1. Anh Nguyễn Hoàng Thanh T3, chị Nguyễn Hoàng Thanh T2, chị Nguyễn Hoàng Thanh T9 trình bày:

Các anh chị là con ông Nguyễn Ú và bà Nguyễn Thị Phương M thống nhất với ý kiến trình bày về hàng thừa kế mà nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và ông Trần Văn C trình bày, đồng ý với ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị Phương M và tự nguyện tặng toàn bộ kỷ phần thừa kế được hưởng cũng như phần trích thanh toán tiền bảo quản di sản cho ông công sức từ ông Ú cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q.

  1. Ông Trần Nhân Khắc T10 trình bày:

Ông là chồng của bà Nguyễn Thị T12 (sinh năm 1956, chết năm 2014) trước đây sinh sống tại ngôi nhà K N, nhà ba gian trên lợp tranh. Đến năm 1986, cơn bão số 2 đã làm bay nóc nhà, kèo tre đã sụp và tan nát. Sau đó, ông bỏ ra 04 chỉ vàng 98 thời điểm đó để mua xà gồ, tôn lợp lại. Vợ chồng ông ở được một thời gian thì cãi nhau, năm 1991 ông có lấy thêm người vợ khác. Lúc này vợ chồng bà Nguyễn Thị Phương M về ở chung ngôi nhà này. Sau khi nghe tin vợ và con ông không có chỗ ở nên năm 1993 ông về gọi thêm thợ xây tường, lợp tôn và xây hầm vệ sinh, khi hoàn thiện ông đã bỏ ra 12 chỉ vàng 98 thời điểm đó. Bây giờ ông ủy quyền lại cho con trai ông là Trần Văn C đang sinh hoạt và sống tại ngôi nhà đó.

  1. UBND quận H có văn bản số: 2997/UBND-PTNMT ngày 19/9/2024 trả lời như sau:

Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ:

Về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất: Cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn C2 và bà Nguyễn Thị L6 tại Vãn tự đoạn mãi đất lập ngày 15/12/1959 với diện tích 10m2. Tại sổ mục kê do UBND phường H lưu trữ thể hiện diện tích đất 63,0m2. Diện tích đất thực tế hiện nay 63,6m2 (do chủ hộ tự khai phá thêm và sử dụng trước năm 1975) (theo ý kiến xác nhận của UBND phường H II ngày 20/12/2022 tại đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận).

Về nguồn gốc và thời điểm tạo lập tài sản: năm 1959 và sửa chữa lại vào năm 1977 (theo ý kiến xác nhận của UBND phường H II ngày 20/12/2022 tại đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận). Theo nội dung Văn bản thỏa thuận do các đồng thừa kế của cụ Nguyễn H10 (chết) và cụ Trần Thị B (chết) lập đồng ý để bà Nguyễn Thị T là người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ; được UBND phường H chứng thực ngày 14/11/2022. UBND phường H đã lấy ý kiến khu dân cư; đồng thời lập Thông báo niêm yết số: 282/TB-UBND ngày 05/12/2022 về xác định nguồn gốc và thời gian sử dụng đất, đã được niêm yết 15 ngày theo quy định; có Thông báo kết thúc niêm yết số: 296/TB-UBND ngày 21/12/2022; theo đó xác định không có tranh chấp khiếu nại. Đến ngày 02/3/2023, UBND quận H cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 tại thửa đất số 331, tờ bản đồ số 9 với diện tích đất 63,6m2 tại địa chỉ số K đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng cho cụ Nguyễn H10 (chết) và cụ Trần Thị B (chết), bà Nguyễn Thị T (người đại diện) theo Văn bản cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND phường H chứng thực; số chứng thực 440, quyển số 01/2022-SCT/CK.ĐC, ngày 14/11/2022 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/NĐ-CP của Chính phủ.

Theo nội dung Công văn số: 4424/UBND-QLDTh ngày 15/6/2016 của UBND thành phố về việc giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với các trường hợp người sử dụng đất đã chết như sau: trường hợp người sử dụng đất là hai vợ chồng đều đã chết, thực hiện như sau: các đồng thừa kế lập Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ. Văn bản cử đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận được chứng thực chữ ký theo quy định tại Nghị định số: 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch. Trên cơ sở đó, UBND quận huyện ban hành Quyết định giao đất đối với trường họp phải ban hành Quyết định giao đất và Văn phòng Đăng ký đất đai lập thủ tục cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất là tên người được cử đại diện cho các đồng thừa kế và ghi cụ thể trong ngoặc là người đại diện cho các đồng thừa kế theo pháp luật. Sau khi hoàn thành cấp GCNQSDĐ cho hai trường hợp nêu trên thì căn cứ Giấy chứng nhận đã cấp, những người đồng thừa kế lập thủ tục thừa kế theo quy định của pháp luật để được cấp đổi GCNQSDĐ”. Căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B do nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn C2 và bà Nguyễn Thị L6 tại Văn tự đoạn mãi đất lập ngày 15/12/1959; căn cứ vào Công văn số 4424/UBND- QLĐTh ngày 15/6/2016 của UBND thành phố, UBND quận H cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 ngày 02/3/2023 tại thửa đất số 331, tờ bản

đồ số 9 với diện tích đất 63,6m2 tại địa chỉ số K đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng cho cụ Nguyễn H10 (chết) và cụ Trần Thị B (chết), bà Nguyễn Thị T (người đại diện) là phù hợp theo quy định của pháp luật. Việc cấp Giấy chứng nhận nêu trên để làm căn cứ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn H10 (chết) và cụ Trần Thị B (chết) lập thủ tục thừa kế theo quy định của pháp luật để được cấp đổi GCNQSDĐ. UBND quận H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

  1. UBND phường H: Theo yêu cầu của TAND thành phố Đà Nẵng, UBND phường H cung cấp Bản sảo Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng trên GCNQSDĐ được UBND phường chứng thực ngày 14/11/2022. Tại thời điểm chứng thực UBND phường thực hiện đúng quy định tại Điều 23, Điều 24 của nghị định 23/2015 của C3 phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, thức thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q đề nghị HĐXX căn cứ vào nguồn gốc nhà và đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 do bà Nguyễn Thị T là người đứng tên đại diện theo pháp luật để xác định nhà và đất là di sản của cụ H10 và cụ B. Không có căn cứ để xác định nhà và đất trên là tài sản chung của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị S (chiếm 84,28%), tài sản chung của cụ H10 và cụ B (chiếm15,7%) theo yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T6. Tại Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các đồng thừa kế của cụ H10 và cụ S đã từ chối nhận di sản của cụ H10 và đồng ý tặng cho kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho ông Ú và bà M và các đồng thừa kế của cụ H10 và cụ S đã xác nhận nhận số tiền 30.000.000 đồng từ bà M. Riêng các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị C1 (D1) do con là bà Trần Thị Tuyết N7 và ông Nguyễn Văn L1 là con của ông Nguyễn Văn L4 nhận tiền nhưng không giao lại cho các đồng thừa kế khác nên đề nghị chia theo quy định pháp luật cho những người còn lại. Do đó, đề nghị không chấp nhận hủy các văn bản thỏa thuận và văn bản từ chối nhận di sản cũng như Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 và quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 04/2024/QĐ-SCBSBA ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 623, 643, 649, 650, 651, 652, 688 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q đối với bị đơn ông Trần Văn C về “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Xác định phần di sản của cụ Nguyễn H10 (50%), cụ Trần Thị B 50% đối với nhà đất tại địa chỉ K đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

  1. Chấp chấp nhận 01 phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T6 về chia thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn H10 (chết) đối với người thừa kế không có văn bản từ chối nhận di sản.
  1. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T6 về yêu cầu xác định nhà đất là di sản của cụ Nguyễn H10, cụ Trần Thị S (chiếm 84,28%), tài sản chung của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B (chiếm15,7%).
  2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T6 về yêu cầu: tuyên hủy văn bản thỏa thuận cử người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 do bà Nguyễn Thị T là người thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn H10 (chết) và cụ Trần Thị B (chết).
  1. Buộc vợ chồng ông Trần Văn C, bà Đào Thị Vân H9, cháu Trần Ngọc Như Ý, cháu Trần Ngọc Khắc T11 phải giao Công trình nhà mái tôn với diện tích 18,90m2 tại địa chỉ K N, tổ B, phường H, quận H, TP Đà Nẵng cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q sở hữu, sử dụng, sau khi ông Q đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn C.
  1. Tổng giá trị di sản mà ông Nguyễn Hoàng Thanh Q được hưởng và được tặng cho là 1.664.659.602 đồng = 225.043.278 đồng (thanh toán bảo quản di sản) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà B1 là Nguyễn Thị Ngọc H6, Nguyễn Ngọc P3, bà Nguyễn Thị Ngọc H7) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà T1) +

126.586.844 đồng (kỷ phần bà R) + 14.065.205 đồng (kỷ phần bà T5) + 14.065.205 đồng (kỷ phần ông L1) + 126.586.844 đồng (kỷ phần ông Ú) + 379.760.532 đồng (kỷ phần ông Ú) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà T) + 379.760.532 đồng (kỷ phần bà T) + 15.012.000 đồng (phần xây dựng công trình do bà M xây dựng).

  1. Giao cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ công trình xây dựng nhà 2 tầng + gác lửng 70,30m2; công trình nhà mái tôn ông Trần Văn C đang sử dụng 18,90m2; công trình nhà mái tôn (bếp) bà M đang sử dụng 13,90m2 toạ lạc trên diện tích đất 63,60m2 thuộc thửa đất số 331, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ K đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 đứng tên bà Nguyễn Thị T là người thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn H10 (chết) và bà Trần Thị B (chết) trị giá nhà và đất 2.306.437.000 đồng. Có tứ cận: Phía đông giáp đường kiệt K15 Nguyễn Trãi, phía tây giáp nhà số I và 95 T, phía nam giáp nhà K N, phía bắc giáp nhà K N.
  2. Buộc ông Nguyễn Hoàng Thanh Q phải có nghĩa vụ thối trả giá trị chênh lệch khi chia tài sản cụ thể: thối trả cho bà Trần Thị M3, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn P1, ông Trần Minh N, bà Trần Thị H, mỗi người: 14.065.205 đồng/người. Bà Châu Thị T7, chị Trần Thị Thảo V, chị Trần Thị Thảo M1, mỗi người là 4.688.402 đồng/người. Chị Huỳnh Thị Hiền P2, anh Huỳnh Tấn H3, mỗi người 7.032.603 đồng/người. Anh Trần Nhật N3, chị Trần Thị Thùy L2, mỗi người 7.032.603 đồng/người. Bà Nguyễn Thị Kiều N1, bà Nguyễn Thị Kiều H2, bà Nguyễn Thị Kiều D, ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị Kiều N2, mỗi người là 18.089.835 đồng/người. Bà Nguyễn Thị Thanh L3, anh Nguyễn Văn H4, anh Nguyễn Văn Minh V1, chị Nguyễn Thị Thùy H5 mỗi người là 4.520.959 đồng/người. Ông Trần Nhân Khắc T10 giá trị phần xây dựng: 7.657.650 đồng. Ông Trần Văn C 128.274.701 đồng, trong đó 33.334.568 đồng (giá trị phần xây dựng) + 94.940.133 đồng (kỷ phần thừa kế bà T12). Bà Trần Thị Hồng H, bà Nguyễn Thị Lệ H8, ông Trần Văn T4, mỗi người 94.940.133 đồng/người.
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2 mỗi người phải chịu 300.000đ. Được trừ vào số tiền các ông bà đã nộp thể hiện tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003849;

số 0003850; số 0007701; số 0007702; số 0007703 cùng ngày 17/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Lê Văn Thường Trần Quốc Cường
Đặng Kim Nhân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 264/2025/DS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt

  • Số bản án: 264/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ Văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 305/2024/TLPT-DS ngày 02/12/2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ Văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt ”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger