|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2024/KDTM-PT Ngày: 05-12-2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Trương Thị Quỳnh Trâm |
| Các Thẩm phán: | Bà Lưu Thị Đoan Trang |
| Bà Ngô Thị Phúc Hảo |
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05-12-2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2024/TLPT-KDTM ngày 02-10-2024 về tranh chấp “hợp đồng mua bán hàng hoá”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/KDTM-ST ngày 26-7-2024 của Toà án nhân dân Quận 3 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5701/2024/QĐ-PT ngày 25-10-2024; Quyết định hoãn phiên toà số 15905/2024/QĐ-PT ngày 18-11-2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên A
Địa chỉ: D L, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1979; bà Nguyễn Vũ Vân Ngọc B, sinh năm 1984; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản ủy quyền số 3428/2024/VB-UQ ngày 12-11-2024) (có mặt)
Bị đơn: Công ty TNHH T2
Địa chỉ: 1 T, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1968; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản ủy quyền ngày 25-10-2024) (có mặt)
Người kháng cáo: Công ty TNHH T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên A có ông Nguyễn Huy H là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào khoảng cuối tháng 02-2022, Công ty TNHH Một thành viên A (sau đây viết tắt là Công ty A) được bạn bè giới thiệu đến ông Đỗ Thanh T1 là người chế tạo máy móc phục vụ sản xuất. Sau khi làm việc, Công ty A có đưa ra yêu cầu cụ thể về việc chế tạo một dây chuyền sản xuất. Ông T1 khẳng định công ty của ông là Công ty TNHH T2 (sau đây viết tắt là Công ty T2) có khả năng thực hiện và đáp ứng các yêu cầu này. Vì vậy giữa hai bên đã ký kết hai hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 (viết tắt là Hợp đồng số 03) và 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 (viết tắt là Hợp đồng số 06) cùng ngày 02-3-2022.
Đối với Hợp đồng số 06: Hai bên đồng ý mua bán 05 máy móc dùng cho sản xuất. Cụ thể: Thiết kế, chế tạo, lắp đặt 04 máy móc:
- Máy gấp bánh tráng 3 lần
- Máy đóng gói hút chân không
- Máy kim túi bơ
- Máy đóng túi
Tổng giá trị của Hợp đồng số 06 là 3.521.000.000 đồng, Công ty A đã thanh toán 2.474.000.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng, Bị đơn đã chuyển đến xưởng của Nguyên đơn máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không và máy kim túi bơ. Toàn bộ máy móc đã được lắp đặt cho Nguyên đơn chưa lập biên bản nghiệm thu vì sau khi vận hành thử thì các máy móc không đạt năng suất như mong muốn ban đầu. Nguyên đơn đã trao đổi với Bị đơn để sửa chữa khắc phục tuy nhiên không cải thiện được, toàn bộ máy móc thiết bị không thể đưa vào sản xuất đã bị hoen rỉ, xuống cấp. Đối với máy đóng túi Bị đơn chưa bàn giao.
Đối với hợp đồng số 03: Hai bên thỏa thuận thiết kế, chế tạo, lắp đặt 01 máy đóng gói bánh tráng túi Zip. Tổng giá trị của hợp đồng là 1.530.000.000 đồng, đã thanh toán 765.000.000 đồng. Chưa được bàn giao máy.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn thay đổi kích thước, chất liệu bao bì cho phù hợp với máy mặc dù trước đó Nguyên đơn yêu cầu chế tạo máy đã đưa các mẫu túi Zip với kích thước và chất liệu hiện có để chế tạo máy phù hợp với yêu cầu. Do không tìm được tiếng nói chung, việc chế tạo máy đã ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh, cung ứng hàng hóa của Nguyên đơn.
Nguyên đơn xác nhận hai bên chưa ký biên bản nghiệm thu do máy chưa đáp ứng được yêu cầu để đưa vào sản xuất. Ngày 14-7-2023, Nguyên đơn có ký vào mặt sau của “Biên bản nghiệm thu thiết bị đưa vào sử dụng” số 03/CTMSG là xác nhận cho bên kỹ thuật của Bị đơn lắp ráp máy, không phải ký biên bản nghiệm thu.
Do hiện trạng thể hiện rõ ràng máy không hoạt động được nên Nguyên đơn không yêu cầu trưng cầu giám định về chất lượng máy.
Khi Bị đơn đưa máy xuống lắp đặt có cử nhân viên kỹ thuật đến hướng dẫn nhưng không giao bản hướng dẫn sử dụng và bảo trì máy. Trong khoảng thời gian kéo dài 3-4 tháng từ khi bị đơn giao máy, Nguyên đơn đã liên hệ để Bị đơn cử kỹ thuật đến giải quyết những vấn đề như lắp đặt máy chưa xong, máy vận hành gặp trục trặc, thiếu vật tư nhưng cũng không đáp ứng được yêu cầu.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Tuyên bố chấm dứt các hợp đồng: Hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 ký ngày 02-3-2022 và Hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 ký ngày 02-3-2022.
- Buộc Bị đơn thu hồi lại 03 máy, gồm: máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không và máy kim túi bơ.
- Đề nghị Bị đơn trả lại cho Nguyên đơn toàn bộ số tiền đã nhận là 3.239.000.000 đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn là Công ty TNHH T2 có bà Hồ Thị Hữu P đại diện theo ủy quyền trình bày:
Theo các Hợp đồng số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 và 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 ký ngày 02-3-2022 giữa Công ty TNHH MTV A và Công ty TNHH T2, hai bên đồng ý mua bán 05 máy móc dùng cho sản xuất. Cụ thể: tại hợp đồng số 06, thể hiện Bị đơn đồng ý thiết kế, chế tạo, lắp đặt 04 máy móc: máy gấp bánh tráng 3 lần; máy đóng gói hút chân không; máy kim túi bơ; máy đóng túi.
Ngày 17-12-2022 và 18-12-2022, Bị đơn đã lắp đặt, bàn giao 03 máy là máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không và máy kim túi bơ cho Nguyên đơn để sẵn sàng sản xuất. Do máy móc đạt yêu cầu nên Nguyên đơn đã thanh toán 90% giá trị của 03 máy.
Quá trình làm việc hai bên đã thống nhất việc cung cấp bao bì thuộc về trách nhiệm của Nguyên đơn. Tuy nhiên, Nguyên đơn cung cấp một số loại không đáp ứng được việc đóng gói tự động. Nhằm gấp rút hoàn thiện sản phẩm, nhiều lần Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn cung cấp bao bì đúng chuẩn để hiệu chỉnh máy, kết thúc việc gia công máy nhưng Nguyên đơn vẫn cố tình không cung cấp hoặc đưa loại không đạt chuẩn vào thử nghiệm nên xảy ra tranh luận giữa hai bên, làm chậm tiến độ gia công đối với Bị đơn. Song song với việc vận hành thử máy, Bị đơn hoàn chỉnh thiết kế máy đóng túi. Ngày 23-5-2023, Bị đơn nhận được công văn của Nguyên đơn thông báo sẽ không nhận bất kỳ máy móc nào từ Bị đơn. Bị đơn đã nhiều lần thương thảo trên tinh thần hợp tác, hài hòa lợi ích hai bên nhưng Nguyên đơn không phản hồi. Việc tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng không có lý do chính đáng làm thiệt hại đến tài chính cũng như uy tín của Bị đơn. Do Nguyên đơn không thực hiện các cam kết trong các hợp đồng đã ký nên đề nghị Toà không chấp nhận yêu cầu bồi thường của Nguyên đơn.
Bị đơn cho rằng ba máy bàn giao cho Nguyên đơn đã hoàn chỉnh và đã ký nghiệm thu tại “Biên bản nghiệm thu thiết bị đưa vào sử dụng” số 03/CTMSG.
Đến thời điểm hiện tại Nguyên đơn đã thanh toán được tổng số tiền là 3.239.000.000 đồng.
Các máy khi bàn giao cho Nguyên đơn là đã đảm bảo nên Bị đơn không yêu cầu trưng cầu giám định.
Khi giao máy cho Nguyên đơn, Bị đơn cử kỹ thuật đến hướng dẫn và không có bản hướng dẫn sử dụng và bảo trì máy, lý do việc vận hành sử dụng máy phải qua nhiều khâu phức tạp nên cần phải có kỹ thuật hướng dẫn trực tiếp.
Sau khi giao máy, Bị đơn có cử kỹ thuật đến để hướng dẫn và khắc phục những vấn đề trục trặc phát sinh. Quá trình này kéo dài khoảng 3-4 tháng và đã đáp ứng được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/KDTM-ST ngày 26-7-2024 của Toà án nhân dân Quận 3 đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên A về việc:
- Tuyên bố chấm dứt các hợp đồng đã ký gồm hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 ký ngày 02-3-2022 và hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 ký ngày 02-3-2022 giữa Công ty TNHH Một thành viên A với Công ty TNHH T2;
- Buộc Công ty TNHH T2 thu hồi lại 03 máy, gồm: máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không và máy kim túi bơ;
- Buộc Công ty TNHH T2 trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên A toàn bộ số tiền đã nhận là 3.239.000.000 (ba tỷ hai trăm ba mươi chín triệu) đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 07-8-2024, Toà án nhân dân Quận 3 nhận được Đơn kháng cáo của Công ty TNHH T2, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét các sai sót của cấp sơ thẩm, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận 3.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại số 25/2024/KDTM-ST ngày 26-7-2024 của Toà án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên tòa, các bên đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, Bị đơn không rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá và thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của Nguyên đơn, nơi hợp đồng được thực hiện là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Bị đơn có mặt tại phiên toà sơ thẩm ngày 26-7-2024, Toà án nhân dân Quận 3 nhận Đơn kháng cáo của Bị đơn ngày 07-8-2024, xét thấy kháng cáo còn trong thời hạn luật định và hợp lệ, do đó Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét kháng cáo của Bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và xác nhận của các đương sự, thể hiện: Nguyên đơn và Bị đơn có ký kết Hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 ngày 02-3-2022 và Hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 ngày 02-3-2022. Hợp đồng được ký kết giữa hai pháp nhân, tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội do đó có hiệu lực pháp luật.
[5] Đối với Hợp đồng số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 ngày 02-3-2022, hai bên thoả thuận Bị đơn có trách nhiệm chế tạo 04 máy gồm: máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không, máy kim túi bơ và máy đóng túi; Bị đơn đã giao 03 máy, riêng máy đóng túi chưa giao cho Nguyên đơn. Tổng giá trị hợp đồng là 3.521.000.000 đồng, Nguyên đơn đã thanh toán 2.474.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng đã bàn giao, lắp đặt 3 máy hoàn chỉnh và đã nghiệm thu; tuy nhiên căn cứ Vi bằng số 04/2024/VB-TPLMN ngày 08-01-2024, Văn phòng T3 ghi nhận: “đối với máy gấp bánh tráng ba lần đang vận hành thì dừng lại” (trang số 07), “máy kim túi bơ trong quá trình vận hành thì
dừng lại (trang số 13), “kỹ thuật viên vận hành máy đóng gói, hút chân không. Trong quá trình máy vận hành thì bị dừng lại” (trang số 21). Nội dung ghi nhận này có hình ảnh và video kèm theo vi bằng. Đồng thời, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Toà án nhân dân Quận 3 lập ngày 04-6-2024 với sự có mặt của đại diện theo uỷ quyền Nguyên đơn, Bị đơn và ghi nhận hiện trạng: máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không và máy kim túi bơ đều bị gỉ sét; máy gấp bánh tráng ba lần đang chạy thì bị kẹt đứng máy; máy đóng gói, hút chân không nhân viên kỹ thuật của Nguyên đơn không biết vận hành do máy đã bàn giao lâu, Bị đơn không kèm theo bản hướng dẫn sử dụng; máy kim túi bơ mở công tắc nhưng máy không chạy.
[6] Xét thấy, mặc dù hợp đồng 06 các bên không thoả thuận chi tiết các máy, tuy nhiên mục đích khi giao kết hợp đồng Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn chế tạo các máy gấp bánh tráng, đóng gói sản phẩm và bơm bơ vào túi để thay thế nhân công cho 03 công đoạn này, Bị đơn cũng tiếp nhận yêu cầu và ký kết hợp đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 432 Bộ luật Dân sự: “Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề. Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng...”. Như vậy, 3 máy do Bị đơn lắp đặt giao cho Nguyên đơn đã không đáp ứng được mục đích khi giao kết hợp đồng, hai bên xác nhận Bị đơn đã có thời gian khắc phúc kéo dài 3-4 tháng nhưng không cải thiện được.
[1] Xét ý kiến Bị đơn cho rằng Nguyên đơn đã ký Biên bản nghiệm thu thiết bị đưa vào sử dụng số 03/CTMSG không đề ngày, ghi tháng 6 năm 2023; Hội đồng xét xử nhận thấy: Biên bản nghiệm thu có ông Đỗ Thanh T1, người đại diện theo pháp luật của Bị đơn ký tên, không có chữ ký của đại diện phía Nguyên đơn; mặt sau biên bản có chữ ký, ghi tên Huy H, nội dung chỉ ghi nhận “hôm nay ngày 14/7/2023 A Đ có qua xử lý máy, A Đ báo máy chạy hoàn chỉnh”; như vậy về hình thức, thẩm quyền ký cũng như nội dung không thể hiện việc Nguyên đơn đã ký nghiệm thu thiết bị đưa vào sử dụng theo thoả thuận tại Điều 4 của hợp đồng số 06 như trình bày của Bị đơn. Ngoài ra, tại cấp sơ thẩm cũng như phúc thẩm, đại diện Bị đơn xác nhận sau khi lắp đặt máy đến nay Bị đơn không cung cấp các tài liệu hướng dẫn giao cho bên B (Nguyên đơn) như quy định tại khoản 5.1 Điều 5 về trách nhiệm của bên A (Bị đơn); hai bên cũng xác nhận máy đóng túi của Hợp đồng số 06, Bị đơn chưa giao cho Nguyên đơn.
[2] Đối với hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 ký ngày 02-3-2022, hai bên thỏa thuận Bị đơn thiết kế, chế tạo, lắp đặt 01 máy đóng gói bánh tráng túi Zip. Tổng giá trị của hợp đồng là 1.530.000.000 đồng, đã thanh toán 765.000.000 đồng. Phía Bị đơn cho rằng sở dĩ chưa bàn giao máy cho Nguyên đơn do quá trình thực hiện hợp đồng, Nguyên đơn cung cấp một số
loại bao bì không đáp ứng được việc đóng gói tự dộng, Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn thay đổi kích thước, chất liệu bao bì cho phù hợp với máy, tuy nhiên các bên không đạt được sự thống nhất. Xét thấy, tại Điều 1 của hợp đồng các bên đã thoả thuận rõ chi tiết kích thước máy, độ chính xác +/- 2%..., đồng thời Nguyên đơn đặt hàng Bị đơn thiết kế, gia công máy phù hợp với các mẫu túi zip do Nguyên đơn cung cấp theo nhu cầu hoạt động sản xuất của Nguyên đơn, do đó Bị đơn cho rằng không thể kết thúc việc gia công máy do Nguyên đơn không thay đổi kích thước, chất liệu bao bì cho phù hợp với máy là không đúng thoả thuận tại hợp đồng nên không có cơ sở chấp nhận. Tính đến ngày 22-5-2023, Bị đơn vẫn chưa bàn giao máy cho Nguyên đơn là vi phạm thoả thuận trong hợp đồng và Điều 37 Luật Thương mại, Điều 434 Bộ luật Dân sự. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Bị đơn xác nhận Bị đơn không có bản vẽ thiết kế việc chế tạo các máy, không có tài liệu hướng dẫn vận hành 3 máy mà Bị đơn đã bàn giao cho Nguyên đơn.
[3] Từ nhận định trên, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét ý kiến của đại diện Bị đơn tại Đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại việc sai sót của cấp sơ thẩm ngày 12-11-2024; Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại cấp sơ thẩm Bị đơn không có yêu cầu phản tố nên cấp phúc thẩm không xem xét các yêu cầu của Bị đơn như trong Đơn kháng cáo; ngoài ra Bị đơn nêu Thừa phát lại không có chuyên môn, kỹ thuật để ghi nhận, đưa ra kết luận cũng như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04-6-2024, Bị đơn cho rằng Toà án không có chuyên môn để kết luận; xét thấy tại Vi bằng, Thừa phát lại chỉ ghi nhận hiện trạng các máy; việc xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04-6 2024 có sự chứng kiến của đại diện uỷ quyền của Bị đơn, tuy nhiên phía Bị đơn không có ý kiến, tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Bị đơn không yêu cầu Toà thu thập thêm chứng cứ đồng thời cũng không yêu cầu Toà trưng cầu giám định các máy giao cho Nguyên đơn. Do đó, không có cở sở để chấp nhận kháng cáo của Bị đơn.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn phải chịu án phí 2.000.000 đồng theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH T2. Giữ nguyên Bản án số 25/2024/KDTM-ST ngày 26-7-2024 của Toà án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 39, 292, 312, 306 Luật Thương mại 2005; Điều 424, 427, 432 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án; Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên A về việc:
- Tuyên bố chấm dứt các hợp đồng đã ký gồm hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-03 ký ngày 02/3/2022 và hợp đồng kinh tế số 02.03.22/HĐKT/TMDVCKCTMSG-06 ký ngày 02/03/2022 giữa Công ty TNHH Một thành viên A với Công ty TNHH T2;
- Buộc Công ty TNHH T2 thu hồi lại 03 máy, gồm: máy gấp bánh tráng 3 lần, máy đóng gói hút chân không và máy kim túi bơ;
- Buộc Công ty TNHH T2 trả lại cho Công ty A toàn bộ số tiền đã nhận là 3.239.000.000 (ba tỷ, hai trăm ba mươi chín triệu) đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu Công ty TNHH T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời hạn chậm thanh toán.
-
Về án phí:
Công ty TNHH T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 100.780.000 (một trăm triệu, bảy trăm tám mươi ngàn) đồng.
Công ty TNHH T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên lai thu số 0021475 ngày 08-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3. Công ty TNHH T2 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
H1 lại cho Công ty TNHH Một thành viên A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 48.390.000 (bốn mươi tám triệu, ba trăm chín mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0009422 ngày 05-4-2024 và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai số 0021250 ngày 10-6-2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 3.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./ .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Quỳnh Trâm |
Bản án số 264/2024/KDTM-PT ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Số bản án: 264/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
