|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 264/2024/HS-ST.
Ngày: 05-12-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Nga
- Ông Nguyễn Văn Đô
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 223/2024/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2024/HSST-QĐ ngày 20/11/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L (tên gọi khác: Núi) - sinh ngày 04/01/2001, tại Bình Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị P; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Ngày 30/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 219/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/02/2022, chưa được xóa án tích.
Ngày 31/8/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” tại Bản án số 145/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2023, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 12/3/2020, Chủ tịch UBND phường M ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ngày 27/3/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 72/2024/HSST, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 09 năm 06 tháng tù, chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T1.
Bị cáo hiện đang chấp hành án bản án số 72/2024/HSST được trích xuất để phục vụ côg tác điều tra, truy tố, xét xử. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- Bà Phan Thị Mai H, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Văn M, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố H, phường M, thành phố P, Bình Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường M, thành phố P, Bình Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường M, thành phố P, Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thùy L1, sinh năm 2002 (vắng mặt)
- Ông Trương Ngọc T, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố E, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố E, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 30/12/2020, Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 219/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/02/2022, chưa được xóa án tích.
Trong khoảng thời gian từ 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023, L tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp trên địa bàn thành phố P như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 42 phút ngày 14/9/2023, Nguyễn Văn L đi bộ ngang qua nhà bà Phan Thị Mai H (sinh năm 1981, trú tại khu phố H, phường M, thành phố P) thì phát hiện nhà không có người trông coi nên nảy sinh ý định đột nhập trộm cắp tài sản. L lén lút đột nhập vào nhà bà H, đi vào phòng ngủ thì thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Realme C3 đang sạc pin trên cửa sổ, L rút dây sạc lấy chiếc điện thoại cất giấu túi quần của mình rồi tẩu thoát. Khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, L mang đến tiệm cầm đồ Tuấn V ở khu phố D, phường M, thành phố P do anh Trương Ngọc T (sinh năm 1991) làm chủ để cầm thế thì gặp chị Đặng Thùy L1 (sinh năm 2002, trú tại khu phố E, phường M) là nhân viên của tiệm cầm đồ, L nói điện thoại của mình nên đem đi cầm thế, L1 thấy điện thoại không có mật khẩu nên đồng ý cầm thế với giá 500.000 đồng. Số tiền trên L đã tiêu xài hết.
Sau khi phát hiện mất trộm tài sản, bà H xem lại camera an ninh thì phát hiện L là người trộm cắp tài sản nên đã đến Công an phường M trình báo sự việc. Công an phường M đã đưa L về trụ sở để làm việc, tại đây L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ từ chị Đặng Thùy L1:
- + 01 điện thoại di động hiệu Realme C3, số Imei 1: 860750041467258, số Imei 2: 860750041467241;
- Thu giữ từ bà Phan Thị Mai H:
- + 01 USB lưu trữ đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn L lấy trộm tài sản của bà Phan Thị Mai H vào ngày 14/9/2023.
Tại kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme C3, số Imei 1: 860750041467258, số Imei 2: 860750041467241 trị giá 766.667 đồng;
Xử lý vật chứng và dân sự:
- 01 USB lưu trữ đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn L lấy trộm tài sản của bà Phan Thị Mai H vào ngày 14/9/2023, được lưu kèm hồ sơ phục vụ xét xử.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme C3, số Imei 1: 860750041467258, số Imei 2: 860750041467241, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại cho bà Phan Thị Mai H. Bà H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
- Đối với số tiền 500.000 đồng nhận cầm thế tài sản cho Nguyễn Văn L thì anh Trương Ngọc T không yêu cầu L trả lại.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ ngày 15/9/2023, Nguyễn Văn L đi bộ ngang qua nhà ông Nguyễn Văn Đ tại khu phố A, phường M, thành phố P thì thấy nhà ông Đ không có ai trông coi nên L đi qua hông nhà ông Đ dùng tay giật cánh cửa sổ bung ra rồi đột nhập vào nhà ông Đ để tìm tài sản lấy trộm. L đi vào phòng ngủ thì thấy có 02 chiếc điện thoại di động S và 01 chiếc bóp để trên cái loa sát góc tường. L lấy trộm 02 chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần của mình và mở chiếc bóp ra kiểm tra thì phát hiện có 1.250.000 đồng nên L lấy số tiền này, để lại chiếc bóp về vị trí cũ rồi tẩu thoát. Số tiền trộm cắp được, L đã tiêu xài hết 1.200.000 đồng, còn lại 50.000 đồng.
Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, ông Đ về nhà thì phát hiện bị trộm cắp tài sản. Do nghi ngờ L đã trộm cắp tài sản nên ông Đ đã đi tìm L. Khi thấy ổng Đ đến tìm, L đã bỏ lại 02 chiếc điện thoại di động đã trộm cắp của ông Đ trước đó cùng với số tiền 50.000 đồng còn lại rồi bỏ chạy. Ông Đ đã mang 02 chiếc điện thoại di động nêu trên cùng số tiền 50.000 đồng đến Công an phường M trình báo và giao nộp. Công an phường M đã đưa L về trụ sở để làm việc, tại đây L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ từ ông Nguyễn Văn Đ:
- - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A03, số Imei 1: 354076272187040, số Imei 2: 354860822187042;
- - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10, số Imei 1: 357966105672159, số Imei 2: 357967105672157;
- - Tiền Việt Nam 50.000 đồng (01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng).
Tại kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
- + 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A03, số Imei 1: 354076272187040, số Imei 2: 354860822187042 trị giá 600.000 đồng;
- + 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10, số Imei 1: 357966105672159, số Imei 2: 357967105672157 trị giá 500.000 đồng;
Tổng giá trị tài sản L chiếm đoạt của ông Đ là 2.350.000 đồng.
Xử lý vật chứng và dân sự:
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A03, số Imei 1: 354076272187040, số Imei 2: 354860822187042; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10, số Imei 1: 357966105672159, số Imei 2: 357967105672157 và số tiền 50.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ, ông Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu L bồi thường gì thêm về dân sự.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 12 giờ ngày 15/9/2023, Nguyễn Văn L đi bộ ngang qua nhà ông Nguyễn Văn M tại khu phố A, phường M, thành phố P thì phát hiện 01 chiếc điện thoại di động hiệu VSMART đang để trên lan can trước hiên nhà ông M, xung quanh không có người trông coi nên L lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần của mình rồi đem chiếc điện thoại trên về nhà của mình cất giấu.
Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, ông M đã đến Công an phường M trình báo vụ việc. Qua truy xét, Công an phường M xác định L là người thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của ông M nên đã đưa L về trụ sở để làm việc. Tại đây L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt.
Vật chứng của vụ án: Thu giữ từ Nguyễn Văn L: 01 điện thoại di động hiệu VSMART, số Imei 1: 3567654100, số Imei 2: 356764100192229.
Tại kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
01 điện thoại di động hiệu VSMART, số Imei 1: 3567654100, số Imei 2: 356764100192229 trị giá 100.000 đồng;
Xử lý vật chứng và dân sự:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu VSMART, số Imei 1: 3567654100, số Imei 2: 356764100192229, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho ông Nguyễn Văn M, ông M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu L bồi thường gì thêm về dân sự.
Tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo Nguyễn Văn L lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động của bà H có trị giá 766.667 đồng, 02 chiếc điện thoại di động của ông Đ có trị giá 1.100.000 đồng kèm số tiền 1.250.000 đồng và 01 chiếc điện thoại của ông M có trị là 100.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, ngày 14/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 217/CT-VKS truy tố bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt tại bản án số 72/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023, Nguyễn Văn L đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/9/2023, tại nhà của bà Phan Thị Mai H ở khu phố H, phường M, thành phố P, Nguyễn Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 trị giá 766.667 đồng.
Lần 2: Vào khoảng 03 giờ ngày 15/9/2023, tại nhà của ông Nguyễn Văn Đ ở khu phố A, phường M, thành phố P, Nguyễn Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A03 trị giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10 trị giá 500.000 đồng và số tiền 1.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.350.000 đồng.
Lần 3: Vào khoảng 12 giờ ngày 15/9/2023, tại nhà của ông Nguyễn Văn M ở khu phố A, phường M, thành phố P, Nguyễn Văn L đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu VSMART trị giá 100.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn L chiếm đoạt là 3.216.667 đồng.
Đối với các lần trộm cắp tài sản ngày 14/9/2023 của bà Phan Thị Mai H và ngày 15/9/2023 của ông Nguyễn Văn M, mặc dù tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng Nguyễn Văn L đã có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Do đó hành vi của Nguyễn Văn L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 15/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Hành vi này của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo L có 01 tiền án chưa được xoá án tích tiếp tục phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nguyễn Văn L đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà mỗi lần đều cầu thành tội phạm độc lập nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố P đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Đối với số tiền 500.000 đồng ông Trương Ngọc T nhận cầm thế tài sản cho Nguyễn Văn L, ông T không yêu cầu L trả lại nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Đối với Đặng Thùy L1 là người nhận cầm thế tài sản cho Nguyễn Văn L nhưng L1 không biết tài sản trên do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra Công an thành phố P không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ.
[8] Về phần dân sự: Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện tại hồ sơ không yêu cầu bồi thường về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Bị cáo L hiện đang chấp hành bản án số 72/2024/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tại trại giam T1, nay bị cáo lại bị xét xử về tội “trộm cắp tài sản” nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 để tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- * Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
- * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt 09 năm 06 tháng tù tại Bản án số 72/2024/HSST ngày 27/3/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cướp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành chung chung cho cả hai bản án là 11 (Mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2023.
- * Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 USB ghi hình ảnh bị cáo L trộm cắp tài sản thu giữ từ bà H.
- * Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo L nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; B cho biết các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (05/12/2024), bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) PHAN THỊ THÁI |
Bản án số 264/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 264/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn long phạm tội trộm cắp tài sản
