|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 264/2024/HS-ST Ngày: 06/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Dương
Bà Nguyễn Ngọc Thủy
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 315/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 290/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với:
Nguyễn Văn L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 2000; Tại: Tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12 ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn H và bà Trịnh Kiều T1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 12/02/2024. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trang Quốc P; Địa chỉ: C đường số E, KDC B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Ngọc L1, sinh năm: 1992; Địa chỉ: E ấp F, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Dương Trí D, sinh năm: 1992; Địa chỉ: B ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, Công an xã P phối hợp với Tiêu đoàn 1, T2 Bộ C tiến hành kiểm tra Nguyễn Văn L đang điều khiển xe máy biển số 59K1-306.81 tại trước địa chỉ B đường T thuộc Ấp B, xã P, huyện B. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện bên trong túi quần phía trước bên trái mà L đang mặc có một (01) gói nylon có chứa tinh thể không màu. Tiếp tục kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi áo khoác phía trước bên trái mà L đang mặc có một túi vải màu đỏ, bên trong túi vải có 20 gói nylon chứa tinh thể không màu. Tất cả 21 gói nylon chứa tinh thể không màu nói trên được L khai nhận là ma túy tổng hợp loại hàng đá của Lưng cất giữ nhằm mục đích bán lại cho người khác. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn L, thu giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa L về trụ sở Công an xã P.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn L tại phòng số 209, khách sạn D1, Ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phát hiện và thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 kéo cắt bằng kim loại, 01 ống thủy tinh, 01 quẹt ga, 10 gói nylon rỗng. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B để điều tra xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 2476/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 thu giữ của Nguyễn Văn L là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3299g, loại Methamphetamine;
- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 thu giữ của Nguyễn Văn L là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 17,2375g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Văn L khai nhận: Do bản thân sử dụng ma túy đá từ năm 2023 và cần tiền tiêu xài nên Lưng hoạt động mua bán ma túy. Khoảng 01 tuần trước khi bị bắt, L sử dụng số điện thoại 0917.509.xxx gọi vào số điện thoại có số đuôi là 88 của người tên T1 (không rõ lai lịch) đặt mua hộp 10 ma túy đá giá 4.200.000 đồng tại khu vực công viên thuộc Khu phố C, thị trấn T, huyện B. Sau khi mua được ma túy, L mang về bán cho các đối tượng nghiện thu được tổng số tiền 7.500.000 đồng và còn dư 01 gói ma túy nhỏ. Khoảng 01 giờ sáng ngày 11/02/2024, L tiếp tục gọi cho T1 để đặt mua hộp 10 ma túy đá giá 4.300.000 đồng rồi mang về cất tại Phòng 209 tại khách sạn D1, Ấp D, xã T, huyện B. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 12/02/2024 thì có một người tên P1 (không rõ lai lịch) gọi điện thoại bằng số 0559.937.xxx đặt mua của Lưng 300.000 đồng ma túy đá hẹn giao dịch tại khu vực cầu X thuộc xã P, huyện B, L lấy 01 gói ma túy đá bỏ vào túi quần và lấy 20 gói ma túy đá mua của T1 nêu trên cất vào túi áo khoác, sau đó điều khiển xe mô tô biển số 59K1-306.81 đi bán ma túy, trên đường đi thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra, bắt quả tang như đã nêu trên.
Ngoài ra L còn khai nhận vào ngày 28/01/2024 đã mua bán ma túy cho người nghiện tên Dương Trí D số tiền 600.000 đồng (gồm 300.000 đồng ma túy và bộ D2 sử dụng ma túy) địa điểm giao dịch tại chùa T3. Việc mua bán ma túy giữa bị cáo L và D diễn ra được 03 lần. Hai lần trước D đều mua 200.000 đồng ma túy đá (địa
điểm giao dịch đều tại chùa T3, Thị trấn T, huyện B và điều trả tiền mặt). Lời khai của L phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của Dương Trí D và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án:
1/ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định có khối lượng 0,3299g, loại Methamphetamine;
2/ 20 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định có khối lượng 17,2375g, loại Methamphetamine;
3/ 01 gói nylon; 01 túi vải màu đỏ; 01 quẹt gas; 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đỏ bên trong có chữ KIM KIM THÀNH; 01 kéo bằng kim loại; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế;
4/ 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Bị cáo L dùng để liên lạc mua bán ma túy;
5/ 01 xe mô tô Vision biển số 59K1-306.81 có số khung: RLCS5C640-9Y130114 và số máy 5C64-130117. Qua xác minh, chiếc xe trên do anh Trương Quốc P2 (ngụ tại số C, đường số E, KDC B, Phường A, Quận F) đứng tên chủ sở hữu, anh P2 không còn ở địa phương từ năm 2010. Quá trình điều tra được biết chị Nguyễn Ngọc L1 (là chị ruột bị cáo L) đã mua chiếc xe trên với giá 5.000.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên, do L không có xe đi làm nên chị L1 đã đưa xe cho L làm phương tiện đi lại. Vào ngày 12/2/2024, L dùng xe này để đi mua bán ma túy thì bị bắt quả tang. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thực hiện thủ tục đăng báo nhưng đến nay chưa có kết quả;
6/ 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1 thu giữ của Dương Trí D;
7/ Số tiền 1.060.000 đồng thu giữa của Nguyễn Văn L, số tiền này bị cáo có được từ việc bán ma túy. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển vào kho bạc nhà nước tạm giữ chờ xử lý;
Tại bản Cáo trạng số 297/CT-VKSBC ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Nguyễn Văn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Ngọc L1 vẫn giữ nguyên ý kiến, không trình bày gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã
được sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 11 năm đến 12 năm tù. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau: Vào ngày 12/02/2024 tại trước địa chỉ B đường T, ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn L thực hiện hành vi cất giữ 17,5674g ma túy loại Methamphetamine để bán cho người khác. Ngoài lần phạm tội quả tang ngày 12/02/2024, Nguyễn Văn L còn thực hiện bán ma túy cho Dương Trí D được 03 lần, trong đó có 02 lần bán với giá 200.000 đồng và 01 lần bán với giá 600.000 đồng, gồm ma túy và ống thủy tinh, tất cả đều giao dịch tại chùa T3, thuộc thị trấn T, huyện B.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Về xử lý vật chứng:
- 21 gói nylon chứa ma túy, loại Methamphetamine: Cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 gói nylon; 01 túi vải màu đỏ; 01 quẹt gas; 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đỏ bên trong có chữ KIM KIM THÀNH; 01 kéo bằng kim loại; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế: Liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO: Bị cáo L dùng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô Vision biển số 59K1-306.81 có số khung: RLCS5C640-9Y130114 và số máy 5C64-130117: Chiếc xe này tuy chưa sang tên cho Nguyễn Văn L nhưng có cơ sở xác định L là chủ sở hữu hợp pháp, chiếc xe được L dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1 cùng sim số thuê bao 0559937787: Các tài sản này do Dương Trí D dùng để liên lạc mua ma túy từ bị cáo L, xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Số tiền 1.060.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn L: số tiền này bị cáo có được từ việc bán ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Nguyễn Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy.”;
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
+ Tịch thu, tiêu hủy 21 gói nylon chứa ma túy, loại Methamphetamine.
+ Tịch thu, tiêu hủy 01 gói nylon; 01 túi vải màu đỏ; 01 quẹt gas; 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đỏ bên trong có chữ KIM KIM THÀNH; 01 kéo bằng kim loại; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô Vision biển số 59K1-306.81 có số khung: RLCS5C640-9Y130114 và số máy 5C64-130117.
(Theo Biên bản giao, nhận tang tài vật ngày 30/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1 cùng sim số thuê bao 0559937787.
(Theo Biên bản giao, nhận tang tài vật ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.060.000 đồng.
(Theo Giấy nộp tiền ngày 13/9/2024 của Ngân hàng N – Chi nhánh N1)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 264/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 264/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Lưng
