TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 264/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 9 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trịnh Văn Bé
- Ông Nguyễn Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 403/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 476/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 413/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Trúc L, sinh năm 2001
- Bị đơn: Anh Trần Thanh T, sinh năm 1996
Đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Đường N, tổ A, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Trúc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Qua quá trình tìm hiểu và yêu thương nhau nên chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh Tình tự N tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 13/4/2021. Sau khi kết hôn, chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T sinh sống và làm việc tại đường N, tổ A, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Thanh T thường xuyên say sỉn, lúc say sỉn thì có hành vi đập phá đồ đạc, không quan tâm đến gia đình, khi đi làm về không phụ giúp vợ chăm lo cho con, cơm nước trong nhà mà bỏ đi uống rượu. Khi con được 01 tháng tuổi, anh Trần Thanh T đi uống rượu về, say sỉn thì có hành vi dùng tay bóp mũi con vì lý do con khóc nhiều quá; ngoài ra, sau khi uống rượu, anh Trần Thanh T không kiểm soát hành vi và tự làm tổn thương đến bản thân, tự dùng dao chặt ngón tay của mình. Khi phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên có tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm, chị Lê Thị Trúc L cũng cho anh Trần Thanh T cơ hội để hàn gắn tính cảm vợ chồng nhưng anh Trần Thanh T vẫn không thay đổi nên vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm được. Đến tháng 01/2022, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng và sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Do vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh T.
Về con chung: Chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T có 01 (một) con chung tên Lê Gia B, sinh ngày 14/9/2021. Khi ly hôn, chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Gia B; không yêu cầu anh Trần Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung. Nghề nghiệp hiện tại của chị Lê Thị Trúc L là công nhân với mức thu nhập 9.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.
Anh Trần Thanh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Lê Thị Trúc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi do anh Trần Thanh T không quan tâm, phụ giúp vợ chăm lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu, khi say sỉn thì có hành vi đập phá đồ đạc trong gia đình và làm tổn thương bản thân; mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ khoảng tháng 01/2022 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên không có tạo điều kiện để anh Trần Thanh T và chị Lê Thị Trúc L hàn gắn tình cảm vợ chồng; anh Trần Thanh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng và không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được ly hôn với anh
Trần Thanh T. Về con chung, chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Gia B, sinh ngày 14/9/2021, hiện nay đang sống với chị Lê Thị Trúc L; chị Lê Thị Trúc L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, chị Lê Thị Trúc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Trần Thanh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L. Về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị Trúc L được ly hôn với anh Trần Thanh T. Chị Lê Thị Trúc L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Gia B, sinh ngày 14/9/2021; anh Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Theo giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con chung, anh Trần Thanh T có nơi cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 04/9/2024, anh Trần Thanh T có cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn; anh Trần Thanh T không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được nơi làm việc và thời gian trở về của anh Trần Thanh T. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Trần Thanh T tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Chị Lê Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Trần Thanh T, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Trần Thanh T (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Anh Trần Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, anh Trần Thanh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 (hai) để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Thanh T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị Trúc L cho rằng, chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh Tình tự N kết hôn vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng 8/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi do anh Trần Thanh T không quan tâm vợ con; thường xuyên uống rượu, khi say sỉn thì có hành vi đập phá đồ đạc trong gia đình, làm tổn thương đến sức khỏe của bản thân; mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ khoảng tháng 01/2022 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên không có tạo điều kiện để anh Trần Thanh T và chị Lê Thị Trúc L hàn gắn tình cảm vợ chồng; chị Lê Thị Trúc L có cho anh Trần Thanh T cơ hội nhưng anh Trần Thanh T vẫn không thay đổi tính tình và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lê Thị Trúc L yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh T.
Anh Trần Thanh T đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L.
Xét thấy, chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Trần Thanh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T theo quy định của pháp luật nhưng anh Trần Thanh T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Trần Thanh T không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T nên lời trình bày của chị Lê Thị Trúc L về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Lê Thị Trúc L yêu cầu ly hôn anh Trần Thanh T phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Đối với con chung:
Chị Lê Thị Trúc L xác định chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T có một con chung tên Lê Gia B, sinh ngày 14/9/2021; hiện nay con chung đang sống với chị Lê Thị Trúc L. Khi ly hôn, chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị Lê Thị Trúc L không yêu cầu anh Trần Thanh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Thanh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị Lê Thị Trúc L, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Lê Gia B sinh sống với chị Lê Thị Trúc L cho đến nay; quá trình sinh sống với chị Lê Thị Trúc L, cháu Lê Gia B vẫn được chăm sóc, phát triển tốt. Để ổn định cuộc sống cho cháu Lê Gia B, giúp cháu Lê Gia B phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Trúc L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T ly hôn nên anh Trần Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, chị Lê Thị Trúc L không yêu cầu anh Trần Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Trúc L được ly hôn anh Trần Thanh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 27, ngày 13/4/2021 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung:
Chị Lê Thị Trúc L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Gia B, sinh ngày 14/9/2021. Hiện nay đang sống với chị Lê Thị Trúc L.
Anh Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Lê Thị Trúc L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Thanh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Trúc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0015537 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |
Bản án số 264/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 264/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Qua quá trình tìm hiểu và yêu thương nhau nên chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh Tình tự N tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 13/4/2021. Sau khi kết hôn, chị Lê Thị Trúc L và anh Trần Thanh T sinh sống và làm việc tại đường N, tổ A, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Thanh T thường xuyên say sỉn, lúc say sỉn thì có hành vi đập phá đồ đạc, không quan tâm đến gia đình, khi đi làm về không phụ giúp vợ chăm lo cho con, cơm nước trong nhà mà bỏ đi uống rượu. Khi con được 01 tháng tuổi, anh Trần Thanh T đi uống rượu về, say sỉn thì có hành vi dùng tay bóp mũi con vì lý do con khóc nhiều quá; ngoài ra, sau khi uống rượu, anh Trần Thanh T không kiểm soát hành vi và tự làm tổn thương đến bản thân, tự dùng dao chặt ngón tay của mình. Khi phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên có tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm, chị Lê Thị Trúc L cũng cho anh Trần Thanh T cơ hội để hàn gắn tính cảm vợ chồng nhưng anh Trần Thanh T vẫn không thay đổi nên vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm được. Đến tháng 01/2022, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng và sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Do vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị Trúc L yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh T
