|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:264/2024/DSST Ngày: 18 - 9 - 2024 “ V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản". |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Cảnh Liêm;
- Ông Phạm Ngọc Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Qui Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST - DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:278/2024/QĐXX-ST ngày 14/8/2024
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn D, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị Hạnh N, sinh năm 1967.
Địa chỉ: 5 N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định
* Bị đơn : Bà Cao Thị Minh N1, sinh năm 1968 và ông Trần Ngọc Ả, sinh năm 1962.
Địa chỉ: H đường C, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định;
Địa chỉ hiện nay: F N, TP ., tỉnh Bình Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Hoàng Thị Hạnh N trình bày: Vợ chồng ông D, bà N và vợ chồng bà N1, ông Ả là chỗ thân quen với nhau; Ngày 30/12/2017 vợ chồng ông D, bà N có cho
vợ chồng bà N1, ông Ả mượn số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) để mở quán cà phê, thời gian mượn là 01 tháng (từ ngày 30/12/2017 đến 30/01/2018), lãi suất thoả thuận miện theo lãi Ngân hàng. Số tiền trên vợ chồng ông D, bà N đã vay tại ngân hàng V,
Sau khi mượn bà N1, ông Ả không trả cho ông D, bà N đúng hẹn, đến ngày 01/3/2018 bà N1, ông Ả mới trả cho ông D, bà N được 100.000.000 đồng tiền gốc, sau đó bà N1, ông Ả chỉ đưa tiền lãi cho ông D, bà N trả lãi ngân hàng đến tháng 10/2022 không đưa nữa, còn tiền gốc bà N1 ông Ả trả dần thêm nhiều lần được 100.000.000 đồng nữa. Như vậy bà N1, ông Ả đã trả cho ông D, bà N tổng cộng 200.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ ông D, bà N là 400.000.000 đồng.
Mặc dù ông D, bà N đã nhiều lần đề nghị bà N1, ông Ả trả số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng nhưng bà N1, ông Ả không trả. Vì vậy, ông D, bà N yêu cầu Toà án buộc bà N1, ông Ả phải trả số tiền gốc 400.000.000 đồng cho ông D, bà N, tiền lãi ông D, bà N không yêu cầu.
Bị đơn bà Cao Thị Minh N1 và ông Trần Ngọc Ả được Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập hợp lệ để bà N1, ông Ả đến tòa khai báo, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà N1, ông Ả không đến Toøa. Taïi phieân toøa hoâm nay bà N1, ông Ả vaéng maët laàn thöù hai khoâng coù lyù do.
+ Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Thẩm phán đã tiến hành thụ lý, xác định quan hệ pháp luật, xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hoà giải, tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sợ cho viện kiểm sát đều đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự : Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật TTDS; Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự được quy định tại các Điều 70 và 72 Bộ luật TTDS.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N, buộc bà Cao Thị Minh N1 và ông Trần Ngọc Ả phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), tiền lãi ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Cao Thị Minh N1 và ông Trần Ngọc Ả mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Bị đơn đang cư trú tại: F N, TP ., thành phố Q, tỉnh Bình Định nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự .
[3] Về nội dung tranh chấp: Vợ chồng ông D, bà N và vợ chồng bà N1, ông Ả là chỗ thân quen, ngày 30/12/2017 vợ chồng ông D, bà N cho bà N1, ông Ả mượn số tiền 600.000.000 đồng, thời gian mượn là 01 tháng (từ ngày 30/12/2017 đến 30/01/2018), lãi suất thoả thuận miện theo lãi Ngân hàng, mục đích để mở quán cà phê. Sau khi vay đến hẹn 01 tháng sau bà N1 ông Ả không trả, sau đó bà N1 ông Ả trả nhiều lần cho ông D, bà N được 200.000.000đồng tiền gốc, còn tiền lãi chỉ trả đến tháng 10/2022 không đưa nữa. Hiện nay bà N1, ông Ả còn nợ ông D, bà N là 400.000.000 đồng tiền gốc.
Mặc dù nhiều lần ông D, bà N yêu cầu bà N1, ông Ả trả nợ số tiền còn lại là 400.000.000 đồng nhưng bà N1, ông Ả không chịu trả. Nay ông D, bà N yêu cầu Toà án buộc vợ chồng bà N1, ông Ả phải trả số tiền 400.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi không yêu cầu.
HĐXX xét thấy: Đây là hợp đồng vay tài sản có ký hạn, có lãi suất, sau khi vay, bà N1, ông Ả không trả nợ đúng thời hạn, sau đó trả dần cho ông D, bà N số tiền gốc tổng cộng 200.000.000đồng, còn tiền lãi trả đến tháng 10/2022 rồi không trả nữa, như vậy bà N1, ông Ả đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay ông D, bà N yêu cầu bà N1, ông Ả phải số tiền gốc 400.000.000đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Ông D, bà N không yêu cầu tiền lãi nên HĐXX không xem xét.
[4] Về án phí:
- B, ông Ả có nghĩa vụ trả nợ cho ông D, bà N 400.000.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 20.000.000 đồng nhưng ông Ả là người cao tuổi nên được miễn phần án phí ông Ả là 10.000.000 đồng; Còn phần án phí dân sự sơ thẩm bà N1 phải chịu theo quy định của pháp luật là 10.000.000 đồng.
- Ông D, bà N được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên hoàn trả cho ông D, bà N 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000959, ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phù hợp nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử :
1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N.
1.1. Buộc bà Cao Thị Minh N1 và ông Trần Ngọc Ả phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăn triệu đồng).
1.2. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người thi hành án không thi hành thì phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS.
2. Về án phí:
2.1. Bà Cao Thị Minh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Ông Trần Ngọc Ả là người cao tuổi nên được miễn án phí.
2.2. Hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn D, bà Hoàng Thị Hạnh N 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000959, ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
3. Về quyền kháng cáo: Ông D, bà N và bà N1, ông Ả có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bán án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Trọng Hiền |
Bản án số 264/2024/DSST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 264/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay
