|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2024/DS-PT Ngày: 10-7-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Dương Hùng Quang |
| Các Thẩm phán: | Bà Châu Minh Hoàng |
| Bà Hoàng Thị Hải Hà |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024, về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2023/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 47/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 215/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 264/2024/QĐ- PT ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quang N, sinh năm 1963. Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1963. Địa chỉ liên hệ: Số B, đường H, khóm D, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Theo văn bản ủy quyền ngày 28/02/2024 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Triệu Quang P, sinh năm 1970. Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn:
- Ông Lê Tuấn K, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Huy K1, sinh năm 1987 (có mặt).
- Ông Huỳnh N1, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Thanh Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú: Ấp Ông Đ1, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Hà Bích T, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Công ty TNHH MTV L (gọi tắt: Công ty L).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Tấn H - Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt). - Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng K2 - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Quách Hữu K3, sinh năm 1967. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1983. Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Triệu Quang P là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 24/10/2022 và lời trình bày của ông Trần Quang N tại phiên tòa:
Ông N có phần đất rừng giao khoán và đất rừng sản xuất, thửa số 87 + 94 + 97, khoảnh 43, tiểu khu A, tổng diện tích 51.137m², tại ấp Đ, xã T, huyện N có vị trí như sau: Phía bắc giáp thửa 87 + 89, phía nam giáp thửa 99, phía đông giáp rạch Đường Kéo, phía tây giáp rạch Chà Là. Trước đây ông có cho ông Triệu Quang P là người cặp ranh đất của ông thuê phần đất trên 10 năm để nuôi trồng thuỷ sản, đến năm 2012 thì ông P phải trả đất lại cho ông. Tuy nhiên trước thời gian giao trả đất vài tháng ông P có múc ranh đất của ông P cặp ranh đất của ông (nhìn từ mặt tiền lên mép bên tay trái), đã lấn chiếm qua phần bờ ranh của ông có chiều ngang 1,5m, chiều dài 432m tại ấp Đ, xã T.
Năm 2012 ông có làm đơn yêu cầu gửi đến chính quyền địa phương ấp Đ và Ủy ban nhân dân xã T giải quyết nhưng không thành. Từ đó đến nay việc tranh chấp giữa hai bên kéo dài. Do đó, ông yêu cầu Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển giải quyết buộc ông P trả lại cho ông phần đất lấn chiếm có chiều ngang 1,5m x chiều dài 432m, tại ấp Đ, xã T, huyện N.
Tuy nhiên sau khi có kết quả đo đạc ông yêu cầu theo diện tích đo đạc thực tế là 205,5m². Giá trị thành quả lao động trên đất là 40.000.000 đồng. Yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 205,5m². Đối với diện tích phần đất mà bị đơn ông P đã sang bán lại cho ông Đ diện tích 48,8m² ông thống nhất là đối trừ lại tổng diện tích tranh chấp còn lại là 156.7m². Hiện nay ông Đ đang sử dụng thì ông Lê Thanh Đ phải trả lại cho ông giá trị thành quả lao động là 50.000.000 đồng. Đối với diện tích phần đất còn lại ông thống nhất giá trị thành quả lao động là 40.000.000 đồng.
Tại Biên bản hoà giải ngày 20/12/2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án bị đơn ông P trình bày:
Ông P không thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Quang N, do ông không có lấn ranh đất của ông N. Đất của ông diện tích 4,9ha. Giao về cho Uỷ ban quản lý hơn 3ha. Ông cũng thống nhất theo ý kiến của nguyên đơn tiến hành đo đạc lại để rõ ràng diện tích. Phần thuộc tiểu khu A, do Công ty L quản lý, phần đất chưa được cấp hợp đồng giao khoán. Tuy nhiên sau này có giao về cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý hơn 3ha. Ông xác định hiện nay ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên tổng diện tích giao về cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Còn lại một phần do Công ty L quản lý. Ông thống nhất giá trị thành quả lao động trên đất là 40.000.000 đồng. Ông không thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn ông N do ông không có lấn chiếm đất của ông N. Đối với giá trị thành quả lao động trên đất phần đất tranh chấp ông thống nhất là 40.000.000 đồng, đối với phần đất ông sang bán lại cho ông Đ ông xác định giá trị thành quả lao động là 50.000.000 đồng.
Tại Biên bản làm việc ngày 20/11/2023 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên L xác định:
Nguồn gốc phần đất hiện nay ông P đang quản lý là do tự bao chiếm, đơn vị chủ quản là Công ty L chưa xác lập hợp đồng giao khoán, không xác định rõ vị trí và diện tích. Hiện nay phần đất ông P đang quản lý đã giao lại cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý một phần, phần còn lại do Công ty L quản lý.
Đối với phần đất của ông N quản lý có nguồn gốc tự bao chiếm, tuy nhiên đã được Công ty TNHH MTV L giao khoán theo sổ hợp đồng giao khoán số: 51/2014 theo Nghị định 135, theo trích lục thửa đất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C khoảnh số 43, tiểu khu A ngày 27/12/2013. Hiện nay phần diện tích đất của ông N đã giao cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý một phần, một phần còn lại giao cho Công ty L quản lý.
Ý kiến trình bày của ông Đ: Ông xác định nếu đất của ông N, ông N đồng ý nhận giá trị bằng tiền thì ông cũng đồng ý giao 50.000.000 đồng cho ông N. Ông sẽ yêu cầu ông P xử lý việc mua bán giữa ông và ông P, không yêu cầu trong vụ án này. Ông P, ông Đ, bà B, ông N đều thống nhất phần đất ông P sang bán lại cho ông Đ là 50.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2023/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang N. Buộc bị đơn ông Triệu Quang P trả lại diện tích phần đất giao khoán có diện tích theo đo đạc thực tế: 156,2m² tại ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Buộc ông Lê Thanh Đ trả giá trị thành quả lao động trên đất 50.000.000 đồng cho ông Trần Quang N. Ông Lê Thanh Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất giao khoán có diện tích 48,8m² tại ấp Đ, xã T và thực hiện việc sử dụng đất theo quy định (có sơ đồ đo đạc kèm theo).
Chi phí tố tụng: Nguyên đơn được nhận lại chi phí đo đạc từ bị đơn số tiền: 45.378.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 bị đơn ông Triệu Quang P có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2023/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Triệu Quang P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, nhưng điều chỉnh về diện tích đất bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 156,7m² kèm theo vị trí tứ cận, mốc giới cụ thể.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Triệu Quang P còn trong hạn luật định. Nội dung kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm đánh giá chưa khách quan đến các tình tiết trong vụ án.
[2] Xét nguồn gốc đất đang tranh chấp là do tự bao chiếm, thuộc sự quản lý của Công ty L. Hiện nay một phần đã giao về cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý, còn lại một phần do Công ty L quản lý. Các bên tranh chấp đất về ranh giới liền kề.
Đối với phần đất hiện nay của ông N đã được Công ty L giao khoán năm 2014 với diện tích giao khoán là 51.137m² trước khi giao khoán Công ty đã có tọa độ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên toà các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc thực tế. Tổng diện tích đất theo đo đạc thực tế của ông N là 47.254m², diện tích lộ giới trả lại cho ông phần đất lấn chiếm có chiều ngang 1,5m x chiều dài 432m tại ấp Đ, xã T, huyện N.
Tuy nhiên sau khi có kết quả đo đạc ông yêu cầu theo diện tích đo đạc thực tế là 205,5m². Giá trị thành quả lao động trên đất là 40.000.000 đồng. Yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 205,5m². Đối với diện tích phần tổng diện tích đã giao về cho Ủy ban quản lý. Quá trình giải quyết vụ án ông P xác định tổng diện tích đất của ông là 4,9ha nhưng số liệu trên là do ông tự bao chiếm. Qua đo đạc thực tế tổng diện tích là 51.106,3m², diện tích phần đất tranh chấp là 205,5m² gồm các thửa số 1,2,4,5,7 và diện tích đường lộ là 355.7m², tổng diện tích là 51.667,5m². Theo kết quả đo đạc thực tế thì diện tích đất của nguyên đơn còn thiếu so với diện tích giao khoán, diện tích đất của bị đơn dư ra so với diện tích mà bị đơn xác định.
Mặt khác Công ty L là đơn vị chủ quản đối với tổng diện tích hai phần đất của nguyên đơn và bị đơn trong đó có 205,5m² đang tranh chấp thì xác định diện tích đất của bị đơn ông P là tự bao chiếm, đơn vị chưa xác lập hợp đồng giao khoán. Đối với nguyên đơn ông N thì Công ty L đã xác lập hợp đồng giao khoán trích theo sơ đồ đo đạc của Sở T, vị trí và diện tích đã xác định với tổng diện tích đất giao khoán là 51.137m².
Tại Bản đo vẽ ngày 24/5/2023 của Công ty TNHH MTV T1 xác định phần đất của ông N và ông P giáp ranh nhau vị trí tranh chấp từ thửa số 1,2,3,4,5,6,7 và một phần đất ven sông.
Đối với thửa số 2,3,4 bản vẽ ngày 24/5/2023 của Công ty TNHH MTV T1 diện tích 3.094,0m² phần đất này trước đây ông P quản lý sau đó ông P đã bị thu hồi do Công ty L quản lý vì vậy không còn tranh chấp giữa ông P và ông N.
Như vậy phần đất tranh chấp là thửa số 1,5,6 và một phần thửa số 7 có diện tích 21,1m². Trong đó diện tích nhà ông Đ là 17,2m² của một phần thửa số 7. Đối với phần đất giáp mé sông có diện tích 31,6m² là phần nhà ông Đ, phần đất này là bãi bồi không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P và ông N. Riêng phần diện tích nhà là 17,2m² nằm trong phần đất của ông N các bên đã thỏa thuận theo kiến trúc giá trị và tiếp tục giao cho ông Đ sử dụng.
Tại Biên bản hòa giải và cũng như tại phiên tòa sơ thẩm ông N chỉ yêu cầu ông P trả lại diện tích đất là 205,5m², nguyên đơn xác định sau khi đối trừ phần nhà ông Đ thì nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại phần lấn chiếm diện tích lấn chiếm là 156,7m² là hoàn toàn đúng theo ý chí yêu cầu của nguyên đơn. Án sơ thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn diện tích 156,2 m² là do sai sót về phép tính vì diện tích đo đạc tranh chấp là 205,5m² - 48,8m² = 156,7m² mới là diện tích chính xác. Phần đất tranh chấp trước đây của ông N cho ông P thuê canh tác theo trình bày của ông N có bờ ngang khoảng 4m, quá trình canh tác ông P đã đưa xáng múc 1/2 bờ nên phần đất ông P lấn chiếm sang đất ông N, việc ông P múc bờ là có xảy ra vì trước đây giữa hai bên cũng đã có tranh chấp nhưng chưa giải quyết dứt điểm.
Đối với thửa số 6 diện tích 6,5m² nằm giữa hai phần đất của nguyên đơn và bị đơn nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn lại cho là không phải của mình trong khi đất của các bên giáp ranh nhau là bờ có đường cong khúc khủy lồi lõm. Theo bản vẽ phần đất thửa số 6 có hiện trạng theo hình tam giác, theo bãn vẽ bổ sung của Công ty TNHH MTV T1 được chia theo chiều dọc ranh giới hai bên phần đất của các bên, một phần diện tích là 2,2m² và một phần diện tích là 4,3m².
Như vậy các bên tranh chấp thửa số 1 diện tích là 154m², thửa số 5 diện tích là 0,5m² và một phần thửa số 6 diện tích là 2,2m² theo bản vẽ bổ sung. Tổng cộng diện tích là 156,7m² là phù hợp.
Tuy nhiên án sơ thẩm tuyên buộc trả diện tích 156,7m² nhưng không nêu vị trí cụ thể gây khó khăn trong việc thi hành bản án. Do đó cấp phúc điều chỉnh bổ sung phần quyết định bản án sơ thẩm tuyên lại đúng theo vị trí các cạnh điểm theo bản vẽ và tiền chi phí đo đạc.
Ngày 28/6/2024 Tòa án có xem xét tại chỗ phần đất có nhà ông Đ chỉ chiếm 17,2m² phần nhà ông Đ còn lại là 31,6m², phần này nằm ngoài đất của ông P và ông N vì đây là phần bãi bồi giáp sông, cặp nhà ông Đ là nhà của bà C nằm giáp sông phần này nằm về phần đất ông P và đã có từ trước khi ông P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó phần đất này không có tranh chấp nếu có tranh chấp thì là tranh chấp giữa ông P và bà C.
Đối với phần nhà của ông Đ diện tích 48,8m², cụ thể: Tại thửa số 7 phần nhà là 17,2m², phần nhà mé sông K bản đo vẽ diện tích là 31,6m². Tại phiên toà các đương sự đều thống nhất giá trị thành quả lao động trên đất là 50.000.000 đồng, ông N cũng thống nhất nếu đất của ông thì ông đồng ý nhận 50.000.000 đồng và giao 48,8m² đất cho ông Đ tiếp tục quản lý, sử dụng và ông Đ cũng đồng ý. Do đó, cần buộc ông Đ trả lại cho ông N giá trị thành quả lao động trên đất 50.000.000 đồng. Đối với diện tích theo đo đạc thực tế mà ông P bán cho ông Đ 48,8m² mà hiện nay ông Đ đã cất nhà ở trên đất, ông Đ được tiếp tục, sử dụng.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn là ông Triệu Quang P có kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho việc kháng cáo.
[4] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Triệu Quang P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển nhưng có điều chỉnh phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần diện tích và bổ sung vị trí tứ cận cụ thể.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn trả lại chi phí đo đạc cho nguyên đơn số tiền 45.378.000 đồng.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Triệu Quang P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh Đ phải chịu theo quy định. Nguyên đơn ông Trần Quang N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, đã dự nộp được nhận lại.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Triệu Quang P.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang N. Buộc bị đơn ông Triệu Quang P trả lại diện tích phần đất giao khoán có diện tích theo đo đạc thực tế: 156,7m² tại ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Vị trí thửa số 1 diện tích 154,0m² (từ các điểm 16,17 đến các điểm 28, 36), thửa số 5 diện tích 0,5m² (từ các điểm 70,71,72), một phần thửa số 6 diện tích 2,2m² (từ các điểm 72,73,74 và điểm A) theo Biên bản đo vẽ hiện trạng ngày 24/5/2023 và theo Bản vẽ bổ sung vị trí của Công Ty TNHH MTV T1.
- Buộc ông Lê Thanh Đ trả giá trị thành quả lao động trên đất 50.000.000 đồng cho ông Trần Quang N. Ông Lê Thanh Đ được tiếp tục, sử dụng phần đất giao khoán 17,2m² và phần mé sông diện tích 31,6m² có diện tích 48,8m2 tại ấp Đ, xã T và thực hiện việc sử dụng đất theo quy định (có sơ đồ đo đạc kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Triệu Quang P hoàn trả lại chi phí đo đạc cho nguyên đơn Trần Quang N số tiền 45.378.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- + Bị đơn ông Triệu Quang P phải chịu số tiền 1.524.200 đồng.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh Đ phải chịu án phí số tiền 2.500.000 đồng.
- + Nguyên đơn ông Trần Quang N được nhận lại số tiền 1.000.000 đồng đã dự nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0020224 ngày 24/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Triệu Quang P phải chịu 300.000 đồng. Ngày 05/12/2023 ông P đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014795 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Hùng Quang |
8
Bản án số 264/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 264/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm có điều chỉnh về diện tích và bổ sung vị trí tứ cận
