TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 264/2025/LĐ-ST Ngày: 06-6-2025 V/v: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu và ông Nguyễn Hồng Việt;
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 132/2025/TLST-LĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp về tiền lương và bảo hiểm xã hội theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2025/QĐXXST-LĐ ngày 05 tháng 05 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-LĐ ngày 20/5/2025; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Quách Thị S, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên lạc: Số A, Tổ E, Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH M1; địa chỉ: Số D, Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Bà Quách Thị S làm việc tại Công ty TNHH M1 do bà Yeom M làm tổng giám đốc từ tháng 7 năm 2015 và bà S có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty TNHH M1. Vị trí công việc của bà là công nhân hoàn thành với mức lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà hai bên ký kết là 4.914.000 đồng.
Trong quá trình làm việc, Công ty TNHH M1 vẫn chưa thanh toán tiền lương của tháng 8 và tháng 9 năm 2024 cho bà với tổng số tiền lương là 15.000.000 đồng. Sau nhiều lần yêu cầu Công ty TNHH M1 thì vào đầu tháng 9 Công ty TNHH M1 có trả trước tiền lương cho bà số tiền 3.000.000 đồng, phần còn lại hứa sẽ thanh toán đủ vào tháng sau. Tuy nhiên, đến ngày 24/9/2024 Công ty TNHH M1 đóng cửa không còn hoạt động nữa mà không thông báo cho bà, cũng không thanh toán cho bà số lương vẫn còn nợ là 12.000.000 đồng.
Đến nay bà được biết từ khoảng giữa năm 2023, Công ty TNHH M1 chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà theo quy định, mặc dù hàng tháng vẫn trừ tiền bảo hiểm vào lương của bà, cụ thể Công ty TNHH M1 chưa thanh toán bảo hiểm cho bà từ tháng 07 năm 2023 đến tháng 09 năm 2024. Do Công ty TNHH M1 chưa thanh toán tiền bảo hiểm nên bà không thể chốt sổ bảo hiểm theo quy định dẫn đến việc bà không thể xin việc làm tại công ty khác.
Sau đó bà đã nộp đơn đến Phòng lao động Thương binh và xã hội thành phố T để yêu cầu hòa giải cho việc tranh chấp giữa bà và Công ty TNHH M1. Đến ngày 17/10/2024 và ngày 18/12/2024 bà đã được hòa giải, nhưng Công ty vắng mặt nên Hòa giải không thành.
Nhận thấy việc Công ty TNHH M1 không thanh toán tiền lương, không thanh toán tiền bảo hiểm theo quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà nên bà khởi kiện yêu cầu, cụ thể:
Buộc Công ty TNHH M1 phải thanh toán cho bà Quách Thị S tiền lương còn nợ từ tháng 08 đến tháng 09 năm 2024 là 12.000.000 đồng.
Buộc Công ty TNHH M1 phải đóng Bảo hiểm xã hội và chốt trả bảo hiểm xã hội cho bà Quách Thị S từ tháng 07 năm 2023 đến tháng 09 năm 2024 theo quy định của pháp luật.
Qúa trình tố tụng nguyên đơn thay đổi không yêu cầu Công ty TNHH M1 phải thanh toán tiền lương tháng 08,09/2024 mà chỉ yêu cầu Tòa án xử buộc Công ty TNHH M1 phải đóng Bảo hiểm xã hội và chốt trả bảo hiểm xã hội cho bà S từ tháng 07 năm 2023 đến tháng 09 năm 2024 theo quy định của pháp luật.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; hợp đồng lao động ngày 30/5/2015; phụ lục hợp đồng lao động ngày 02/01/2016; phụ lục hợp đồng lao động ngày 02/01/2017; phụ lục hợp đồng lao động ngày 02/01/2018; phiếu lương tháng 06/2024.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có mặt và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Quách Thị S khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH M1 trả lương các tháng 8, 9 năm 2024; đóng bảo hiểm xã hội và chốt trả sổ bảo hiểm xã hội. Ngày 06/5/2025 nguyên đơn thay đổi không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền lương. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về bảo hiểm xã hội được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH M1; địa chỉ: Số D, Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
- [3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của bị đơn trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bà Quách Thị S và Bảo hiểm xã hội thành phố T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [4] Về nội dung tranh chấp: Theo đơn khởi kiện bà Quách Thị S yêu cầu buộc Công ty TNHH M1 phải trả tiền lương đã làm việc của các tháng 8, 9 năm 2024 và yêu cầu đóng tiền bảo hiểm và chốt trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà S từ tháng 07/2023 đến tháng 9/2024. Tuy nhiên, quá trình tố tụng bà S có đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Bà S không yêu cầu Công ty TNHH M1 phải thanh toán tiền lương tháng 8, 9 với số tiền 12.000.000 đồng, bà S chỉ yêu cầu Công ty TNHH M1 phải đóng tiền bảo hiểm và chốt trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà S từ tháng 07/2023 đến tháng 9/2024. Xét, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Quách Thị S vào làm việc tại Công ty TNHH M1 từ tháng 3 năm 2015, Công ty TNHH M1 đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho Bà S từ tháng 06/2015 theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội. Căn cứ Công văn số 416/CV-BHXH ngày 31/3/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố T xác định: Bà Quách Thị S, sinh ngày 01/01/1979; CCCD số [...] (CMND [...]); mã số Bảo hiểm xã hội 7415039900 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH M1 từ tháng 06/2015, Công ty TNHH M1 đã thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà S đến tháng 06/2023. Tháng 9 năm 2024 Công ty TNHH M1 đóng cửa, bà S cũng chính thức nghỉ việc tại Công ty vào thời gian này. Như vậy việc Công ty TNHH M2 lương của bà S hàng tháng nhưng không trích nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà S và không xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà S là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà S theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động nên yêu cầu khởi kiện của bà S là có căn cứ. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S. Buộc Công ty TNHH M1 phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà S tại Bảo hiểm xã hội thành phố T từ tháng 07/2023 đến hết tháng 09/2024. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội và buộc Công ty TNHH M1 thực hiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà S theo quy định pháp luật.
- [6] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [7] Về án phí: Bà Quách Thị S tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238; khoản 1 Điều 244; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 48 Bộ luật Lao động;
- Các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86, khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Quách Thị S đối với bị đơn Công ty TNHH M1 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.
- Buộc Công ty TNHH M1 phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà Quách Thị S, sinh năm 1979; CCCD số [...] (CMND [...]), có mã số bảo hiểm xã hội: 7415039900 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T từ tháng 07/2023 đến tháng 09/2024. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
- Buộc Công ty TNHH M1 thực hiện xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà Quách Thị S theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Nguyên đơn bà bà Quách Thị S tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm. Bị đơn Công ty TNHH M1 không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thuận An; - CCTHADS Tp. Thuận An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 264/2025/LĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Số bản án: 264/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kk
