|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2024/HS-ST Ngày 30-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Tư
Ông Vũ Đức Dũng
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân Quận
Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 549 /2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Thông báo số 636/TB-TA ngày 24 tháng 9 năm 2024 về việc thay đổi thời gian xét xử, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L (tên gọi khác: L1), sinh ngày 01 tháng 11 năm 1978 tại Hải Phòng; nơi thường trú: D N, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số B T, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Tạ Thị L2; có chồng là anh Phạm Văn D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/5/2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị Kiều N, sinh năm 1997; nơi thường trú: Số A Đà Nẵng, phường C, Quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số C Đà Nẵng, phường C, Quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị L làm giúp việc cho gia đình chị Lê Thị Kiều N. Do không có tiền ăn tiêu nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản khi chị N vắng nhà. L đã ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị N, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 18/02/2024, Nguyễn Thị L đi lên phòng ngủ của chị N ở tầng 2. L mở ngăn kéo táp đờ luy cạnh đầu giường lấy 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng chế tác dạng nhẫn kim tiền có gắn 29 viên đá không màu và 01 nhẫn kim loại màu vàng trơn, không đính đá cất vào trong người. Sau đó, L đến cửa hàng V (địa chỉ: số A N, phường C, quận L, Hải Phòng) bán 02 chiếc nhẫn cho bà Vũ Thị T (sinh năm 1958, nơi thường trú: số 1/157 Nguyễn Đức C, C, L, Hải Phòng) được 3.450.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/3/2024, L đi lên phòng ngủ của chị N ở tầng 2. Lan mở tủ quần áo thấy bên trong có ngăn kéo tủ có khóa. L xuống tầng 1 lục túi xách của chị N để ở chân cầu thang tìm thấy chìa khóa. L cầm chìa khóa quay lên phòng ngủ mở ngăn kéo tủ lấy 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn hình con chuột có gắn 21 viên đá không màu và 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn 19 viên đá không màu. Sau đó, L mang 02 chiếc nhẫn trên đến cửa hàng vàng Thanh X bán cho bà Vũ Thị T được 4.900.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ 36 phút ngày 21/3/2024, Nguyễn Thị Lan b gối và gấu bông lên phòng ngủ nhà chị N thì nhìn thấy dưới sàn nhà có 01 túi xách màu đen, L lục túi xách kiểm tra nhưng không có tài sản gì có giá trị. L để túi xách về vị trí cũ rồi tiếp tục lục trong túi xách để trên chiếc loa thì thấy trong túi có 01 ví, trong ví có 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng có gắn 17 viên đá không màu và 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn hình chiếc nơ có gắn 38 viên đá không màu. L liền lấy 02 chiếc nhẫn cất giấu vào trong túi quần bên trái và để túi xách lại vị trí cũ rồi đi xuống tầng 1. Ngay lúc này, Công an phường C vào kiểm tra, phát hiện L cất giấu 02 chiếc nhẫn tại túi quần nên đã bắt quả tang, thu giữ: trong túi quần bên trái của L 02 nhẫn L vừa trộm cắp của chị N.
Kết luận định giá tải sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn có 17 viên đá đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 6.955.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn hình chiếc nơ có gắn 38 viên đá không màu đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 7.005.000 đồng. Đến thời điểm bị xâm hại, 02 chiếc nhẫn trên có giá 13.960.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn có hình con chuột có gắn các viên đá không màu đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 3.414.707 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng chế tác dạng nhẫn kim tiền, có gắn các viên đá không màu đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 3.553.556 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn các viên đá không màu đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 3.982.805 đồng. Đến thời điểm bị xâm hại, 03 chiếc nhẫn trên có giá 10.951.068 đồng.
Công văn số 23/TCKH-ĐGTS ngày 08/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N về việc từ chối định giá tài sản theo yêu cầu số 3163/YC-ĐCSHS ngày 15/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với 01 nhẫn kim loại màu vàng, trơn không đính đá. Do tài sản cần tiến hành định giá chưa thu hồi được, không có thông tin thông số kỹ thuật của tài sản, tài sản không có hình ảnh, không có hóa đơn mua bán hàng hóa nên không đủ điều kiện để tiến hành định giá theo mục a, khoản 1, Điều 10, Nghị nghị 30/2018/NĐ- CP.
Tại Cáo trạng số 210/CT-VKSNQ ngày 20 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Kiều N đã nhận lại 05 chiếc nhẫn và được bị cáo bồi thường chiếc nhẫn tương đương chiếc nhẫn của chị N chưa thu hồi được, chị N không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự, tịch thu và tiêu hủy: 01 áo vải ngắn tay họa tiết kẻ caro; 01 quần dài vải nhung nỉ màu đen; 01 quần nhung nỉ dài màu xám; 01 áo vải ngắn tay cổ tròn.
- - Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị hại: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị L đã ba lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 06 chiếc nhẫn vàng tổng trị giá 25.011.068 đồng của chị Lê Thị Kiều N tại nhà của chị N ở số C Đà Nẵng, Cầu T, Ngô Q, Hải Phòng. Cụ thể:
[3.1] Ngày 18/02/2024, bị cáo L trộm cắp 02 chiếc nhẫn vàng tổng trị giá 3.653.556 đồng; gồm: 01 chiếc nhẫn trị giá: 3.553.556 đồng; 01 chiếc nhẫn trơn chưa thu hồi và không định giá được, lời khai của bà Vũ Thị T là người mua chiếc nhẫn phù hợp với lời khai của bị cáo L là bà T mua của bị cáo L với giá 100.000 đồng và đã bán lại cho khách với giá 100.000 đồng nên xác định giá trị của chiếc nhẫn này là 100.000 đồng.
[3.2] Ngày 08/3/2024, bị cáo L trộm cắp 02 chiếc nhẫn vàng, tổng trị giá 7.397.512 đồng;
[3.3] Ngày 21/3/2024, bị cáo L trộm cắp 02 chiếc nhẫn vàng, tổng trị giá 13.960.000 đồng.
[3.4] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Nguyễn Thị L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[8] Bị hại chị Lê Thị Kiều N đã nhận lại 05 chiếc nhẫn và được bị cáo L bồi thường chiếc nhẫn tương đương chiếc nhẫn của chị N chưa thu hồi được, chị N không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về những vấn đề khác:
[10] Đối với 05 chiếc nhẫn đã thu hồi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chị Lê Thị Kiều N. Việc xử lý của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11] Đối với 01 áo vải ngắn tay họa tiết kẻ caro; 01 quần dài vải nhung nỉ màu đen; 01 quần nhung nỉ dài màu xám; 01 áo vải ngắn tay cổ tròn; tại phiên tòa bị cáo không đề nghị nhận lại đồ vật này nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự, tịch thu và tiêu hủy đối với các đồ vật này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự, tịch thu và tiêu hủy: 01 áo vải ngắn tay họa tiết kẻ caro; 01 quần dài vải nhung nỉ màu đen; 01 quần nhung nỉ dài màu xám; 01 áo vải ngắn tay cổ tròn.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 264/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 264/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thụ lý 208
