|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hoa;
Ông Đỗ Văn Ngôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 254/2024/TLST-HS ngày 11/11/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2024/QĐXXST-HS ngày 28/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Văn T, sinh năm 1990. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12.
Con ông: Lâm Quang V.
Con bà: Trần Thị G.
Anh chị em ruột: Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024 đến ngày 25/8/2024, hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- Anh Nông Đình V1 sinh năm 2002. Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Anh Hoàng Xuân Đ sinh năm 2002. Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Văn T, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm công nhân tại xưởng sản xuất I02 Công ty trách nhiệm hữu hạn F (viết tắt là Công ty F) ở Khu Công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang từ tháng 5/2024. Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 14/8/2024 sau khi hết ca làm việc, T đi ra khu vực tủ để đồ cá nhân bên ngoài xưởng sản xuất I02 trong Công ty F lấy đồ ra về. T nhìn thấy cạnh tủ để đồ của T có tủ để đồ cá nhân ký hiệu số “02” của anh Nông Đình V1, sinh năm 2002, trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng là người làm cùng Công ty, không khóa tủ, cánh tủ hé mở. T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bên trong tủ. Thấy xung quanh vắng người, T mở cánh tủ rồi lấy trộm trong tủ 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu xanh, dụng lượng 128GB, lắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0356.749.xxx là tài sản của anh V1 rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên phải. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ- đen, biển số 98B1-862.03 đi về phòng trọ đang thuê ở trọ tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cất giấu. Tại phòng trọ, T tháo sim điện thoại vừa trộm cắp của anh V1 ra khỏi điện thoại rồi để toàn bộ ở giường ngủ.
Ngày 15/8/2024, T tiếp tục đến Công ty F làm việc. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/8/2024 sau khi hết giờ làm việc, T ra tủ để đồ cá nhân bên ngoài xưởng sản xuất I02 trong Công ty lấy đồ ra về. Khi lấy đồ, T tiếp tục phát hiện tủ để đồ cá nhân ký hiệu số “40” của anh Hoàng Xuân Đ, sinh năm 2002, trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang không khóa, cánh tủ hé mở. Thấy xung quanh không có người, T mở cánh tủ lấy trộm bên trong tủ 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, dung lượng 128GB, lắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0387.659.xxx là tài sản của anh Đ rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 98B1-862.03 mang điện thoại trộm cắp về phòng trọ cất giấu. Khi về đến phòng trọ, T tiếp tục tháo sim điện thoại vừa trộm cắp của anh Đ ra khỏi điện thoại rồi để toàn bộ ở giường ngủ.
Ngày 16/8/2024, anh Hoàng Xuân Đ và anh Nông Đình V1 đến Đồn Công an Q trình báo về việc bị trộm cắp tài sản là các điện thoại di động nêu trên.
Cùng ngày 16/8/2024, Lâm Văn T đến Đồn Công an Q đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, đồng thời giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S màu xanh, dụng lượng 128GB; 02 sim điện thoại nhà mạng V2 đã trộm cắp (số 0387.659.722 và 0356.749.006); đồng thời Công an thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen, biển kiểm số 98B1-862.03, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi A1. Sau đó, Đồn Công an Q đã bàn giao T cùng vật chứng, tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành kiểm tra 02 điện thoại di động, 02 sim điện thoại khi T giao nộp nêu trên; kết quả thể hiện trong các điện thoại có thông tin cá nhân của anh V1, anh Đ1, thẻ sim có số điện thoại trùng khớp với số điện thoại của bị hại.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc trộm cắp tài sản tại khu vực tủ đồ cá nhân bên ngoài xưởng I02 trong Công ty F, khi khám nghiệm cho T tham dự. Kết quả khám nghiệm hiện trường đã thu giữ được tại camera an ninh lắp đặt tại khu để đồ cá nhân của công nhân toàn bộ hình ảnh video ghi lại việc T trộm cắp tài sản của anh V1 và anh Đ nêu trên; bản thân T đã chỉ đúng tủ đồ trộm cắp tài sản của anh V1 và anh Đ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận trị giá tài sản của anh V1, anh Đ1 bị trộm cắp ngày 14/8/2024 và 15/8/2024: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu xanh, dung lượng 128GB trị giá 1.100.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB trị giá 14.500.000 đồng; 02 phôi sim điện thoại nhà mạng Viettel trị giá 50.000 đồng (25.000đồng/01chiếc).
Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh V1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S cùng 01 thẻ sim số 0356.749.006, anh Đ 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax cùng 01 thẻ sim số 0387.659.722 như nêu trên. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi A1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B1-862.03 là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định pháp luật.
Hành vi T trộm cắp tài sản của anh V1, do trị giá tài sản chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã V đã xử lý hành chính theo quy định pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Lâm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 263/CT-VKS ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1, 5 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 02 năm đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi A1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B1-862.03 là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S cùng 01 thẻ sim số 0356.749.006, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax cùng 01 thẻ sim số 0387.659.722 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh V1, anh Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử không xử lý vật chứng.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về sự vắng mặt của bị hại không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- [3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên qua trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Trong các ngày 14/8/2024 và 15/8/2024, tại khu vực tủ để đồ công nhân bên ngoài xưởng sản xuất 102 trong Công ty trách nhiệm hữu hạn F, ở Khu Công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Lâm Văn T đã 02 lần có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của công nhân làm cùng Công ty, trong đó có 01 lần cấu thành tội phạm, cụ thể: Ngày 14/8/2024, T trộm cắp của anh Nông Đình V1 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu xanh, dụng lượng 128GB, lắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0356.749.xxx, có tổng trị giá: 1.125.000 đồng để trong tủ đồ ký hiệu số “02”. Ngày 15/8/2024, T trộm cắp của anh Hoàng Xuân Đ 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, dung lượng 128GB, lắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0387.659.xxx, có tổng trị giá: 14.525.000 đồng để trong tủ đồ ký hiệu số “40”. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, T đến Công an đầu thú và giao nộp lại tài sản trộm cắp để trả lại bị hại. Tổng trị giá tài sản T phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án là 14.525.000 đồng.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu sài các nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây hoang mang lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
- [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã tự nguyện giao nộp lại tài sản trộm cắp để trả lại bị hại và đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bằng việc bị cáo chưa bị kết án lần nào. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: anh Đ và anh V1 đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp, hiện tại cả hai đều không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về hình phạt bổ sung: cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [8] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh V1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S cùng 01 thẻ sim số 0356.749.006, anh Đ 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax cùng 01 thẻ sim số 0387.659.722 như nêu trên nên Hội đồng xét xử không xử lý vật chứng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi A1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B1-862.03 là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- [10] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo 5.000.000 đồng.
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi A1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B1-862.03 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
8
Bản án số 264/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 264/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lâm Văn Tuấn - Trộm cắp tài sản
