Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 264/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/7/2024

Về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.

Các Hội thẩm nhân: Ông Phạm Công Định, ông Nguyễn Văn Khóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 247/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 223/2024/QĐĐST-HNGĐ ngày 22/7/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  • - Bị đơn: Anh Bùi Văn Á, sinh năm 1975. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị L trình bày: Chị và anh Bùi Văn Á tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 03/9/1997. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do anh Ánh chơi bời làm ảnh hưởng kinh tế gia đình. Năm 2013 và năm 2015, chị và anh Ánh lần lượt sang Đài Loan lao động nhưng anh Ánh không thay đổi cách sống, vẫn tiếp tục chơi bời dẫn đến việc chị nhiều lần phải trả nợ hộ anh Ánh. Tình trạng này kéo dài nhiều năm nhưng không có biện pháp khắc phục khiến cuộc sống của chị luôn căng thẳng, mệt mỏi. Năm 2020, chị về Việt Nam sinh sống và lo toan công việc, lập gia đình cho các con. Anh Ánh vẫn ở tại Đài Loan nhưng không hỏi han, chia sẻ gì với chị. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh Ánh.

Chị và anh Ánh có hai con chung là Bùi Thị Thu T- sinh ngày 03/8/1998 và Bùi Thanh L1- sinh ngày 17/5/2003. Hiện các con đã thành niên, có công việc và thu nhập để nuôi sống bản thân nên chị không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.

Chị không yêu cầu giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.

Bà Phạm Thị L2 và anh Bùi Văn T1 (là mẹ đẻ và anh trai ruột của anh Ánh) phản ánh: Anh Bùi Văn Á cùng chị Phạm Thị L tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau từ năm 1997. Quá trình chung sống, vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn về vấn đề làm ăn kinh tế và do chị L không chung thủy với anh Ánh. Sau đó vợ chồng sang Đài Loan làm ăn nhưng công việc không thuận lợi nên hai bên xảy ra khúc mắc, bất hòa. Chị L về Việt Nam sinh sống từ năm 2020, còn anh Á hiện vẫn đang ở tại Đài Loan. Nay chị L xin ly hôn anh Ánh, gia đình tôn trọng sự quyết định của chị L và anh Ánh.

Chị Bùi Thị Thu T (là con gái ruột của anh Ánh và chị L) phản ánh: Chị nhiều lần chứng kiến bố mẹ mình to tiếng với nhau do bất đồng quan điểm về làm ăn kinh tế và do bố chị chơi bời dẫn đến mẹ chị phải trả nợ hộ nhiều lần. Thời gian bố mẹ ở Đài Loan có xảy ra mâu thuẫn gì không thì chị không nắm được. Năm 2020, mẹ chị về Việt Nam sinh sống, bố chị hiện vẫn ở tại Đài Loan. Tuy nhiên những lần bố mẹ nói chuyện điện thoại với nhau thì đều xảy ra cãi nhau về vấn đề kinh tế.

Anh Ánh vẫn liên lạc bằng điện thoại với gia đình nhưng không ai biết địa chỉ sinh sống ở Đài Loan của anh Á nên không có thông tin để cung cấp cho Tòa án. Anh T1, chị T nhận văn bản của Tòa án thay anh Ánh và đã thông báo cho anh Ánh biết nhưng anh Ánh không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Phạm Thị L ly hôn anh Bùi Văn Á. Buộc chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

[1.1] Anh Bùi Văn Á đang sinh sống tại Đài Loan. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của anh Ánh ở thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Bùi Văn Á tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương năm 1997. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Trình bày của chị L phù hợp với phản ánh của bà Phạm Thị L2, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị Thu T nên có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị L và anh Ánh không hạnh phúc, thường xảy ra to tiếng vì vấn đề kinh tế. Tình trạng này kéo dài nhiều năm nhưng không có biện pháp khắc phục. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không có sự chăm sóc, chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và khởi kiện xin ly hôn anh Ánh. Anh Ánh không đưa ra biện pháp hàn gắn tình cảm, không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị L thể hiện anh không có thiện chí đoàn tụ cùng chị L. Nhận thấy hôn nhân giữa chị L và anh Ánh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị L được ly hôn anh Ánh theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng hai con chung đã thành niên là Bùi Thị Thu T- sinh ngày 03/8/1998, Bùi Thanh L1- sinh ngày 17/5/2003 và không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Bùi Văn Á.
  2. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0000679 ngày 09/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
  3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

4

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 264/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 264/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger