|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 264/2024/DS-PT Ngày: 29/10/2024 V/v: “Tranh chấp chia thừa kế tài sản," |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Bà Đặng Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp chia thừa kế tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 224/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
-
Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1977 (có mặt).
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1984 (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1990 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Chuồng Vích, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở: Ấp Dương Tơ, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1975 (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt).
-
Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
-
Ông Trịnh Công Đ, sinh năm 1975 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
-
Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số I N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
-
Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Vũ Quang T2, sinh năm 1964 (có mặt).
-
Bà Trần Thị C1, sinh năm 1968 (vợ ông T2, có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Lê Phước Thành N1, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt).
-
Bà Từ Kim T3, sinh năm 1982 (vợ ông ông N1, có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: 6 đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Minh C2, sinh năm 1981 (có mặt).
-
Bà Nguyễn Thị Mỹ T4, sinh năm 1981 (vợ ông C2, có mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C2: Ông Võ Hòa T5, sinh năm 1984 (Theo văn bản ủy quyền ngày 11/3/2024, có mặt).
Địa chỉ: Ấp 6, Nhựt Chánh, Bến Lức, Long An.
Chỗ ở: Ấp Chuồng Vích, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-
Ông Tạ Hoài G, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
-
Ông Võ Thanh H, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
-
Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Trụ sở: Khu phố 2, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1 – Chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Huỳnh Văn S1 – Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đồng nguyên đơn chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V trình bày:
Cha, mẹ các anh chị là ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Đ1 (đã chết ngày 13/8/2018), chung sống với nhau được 07 người con chung gồm: Nguyễn Thị P1, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị V. Lúc còn sống cha mẹ các anh, chị có tạo dựng thửa đất tọa lạc tại ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo tờ trích đo địa chính thửa đất số 11, tờ bản đồ số 9, diện tích 8.708,6m² (trong đó được cấp giấy CNQSD đất số BB 641753, diện tích 1.424,3m²), còn lại diện tích 7.284,3m² chưa được cấp giấy. Hiện thửa đất này do cha các anh chị là ông Nguyễn Văn S đang quản lý sử dụng.
Vào ngày 13/8/2018, mẹ các anh chị là bà Đ1 bệnh chết, không để lại di chúc cho thành viên nào trong gia đình thừa kế di sản nói trên. Nhưng nay cha các anh chị không chịu phân chia cho các anh chị mà có ý định muốn chiếm đoạt hết toàn bộ thửa đất nói trên. Trong khi đó thửa đất trên là di sản do mẹ các anh chị chết để lại, theo quy định của pháp luật thì các anh chị là người thừa kế hợp pháp của mẹ các anh chị là bà Nguyễn Thị Đầm . Đồng thời, lúc còn sống cha mẹ các anh chị có thỏa thuận ly hôn có nêu rõ vấn đề tài sản chung khi con út trưởng thành sẽ bán tài sản để chia đều cho 07 đứa con, nhưng nay mẹ các anh chị đã chết, cha các anh chị không phân chia cho các anh chị là không đúng. Vụ việc được UBND xã G tiến hành hoà giải ngày 19/7/2022, ông S đồng ý cho mỗi người con 100.000.000 đồng, nhưng các anh chị không đồng ý nên hoà giải không thành.
Nay các nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết: Chia diện tích đất 8.708,6m² (trong đó, diện tích 1.424,3m²được cấp giấy CNQSD đất số BB 641753), còn lại diện tích đất 7.284,3m² chưa được cấp giấy, đất toạ lạc tại ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Chia cho ông Nguyễn Văn S 50% diện tích đất là 4.354,3m², còn 50% diện tích đất là 4.354,3m² chia đều cho 05 người gồm: Ông Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V mỗi người diện tích 870,86m². Đối với chị Nguyễn Thị P1, chị Nguyễn Thị L và chị Nguyễn Thị T đã được cha mẹ cho đất nên không yêu cầu Tòa án phân chia.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:
Ông sống chung vợ chồng với bà Nguyễn Thị Đ1 vào năm 1972, không có đăng ký kết hôn. Ông chung sống với bà Đ2 có tổng cộng 07 người con chung như nguyên đơn trình bày là đúng. Sau khi chung sống, ông và bà Đ1 sinh sống ở tại M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Năm 1990, vợ chồng làm ăn thất bại nên cùng các con về P sinh sống ở tại tổ H, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ông và bà Đ1 tạo dựng 01 căn nhà trên diện tích đất chiều ngang 8m, dài 30m đã được cấp giấy CNQSD đất hiện tại cho con gái Nguyễn Thị P1 đứng tên trên giấy. Sau đó, Nguyễn Thị P1 chia một phần đất này giáp mé sông cho Nguyễn Thị L. Năm 1996, ông và bà Đ1 phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau, bà Đ1 bỏ về A sinh sống, còn ông ở lại P được ông Nguyễn Văn H2 (đã chết) cho ông diện tích đất 22.000m², tại tổ H, ấp C, xã G, P, ông tự khai phá và sống một mình tại đây.
Ngày 08/5/2017, ông và bà Đ1 cùng các con thỏa thuận như sau: Toàn bộ thửa đất nêu trên bà Đ1 cùng các con tôi thống nhất giao cho ông đứng tên khi nào ông bán thì chia mỗi người 01 tỷ đồng, còn riêng bà Đ1 thì cho 100.000.000đ.
Ngày 09/5/2017, ông và bà Đ1 lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, ông đồng ý cho bà Đ1 sử dụng giá trị bằng 01 cây vàng 24k. Bà Đ1 đồng ý giao toàn bộ thửa đất diện tích 8.941,7m² (chưa được cấp giấy chỉ có sơ đồ 15) và diện tích 8.706,6m² (trong đó có giấy diện tích 1.424,3m²) đều tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G cho ông sử dụng và toàn quyền định đoạt.
Sau đó, ông bán diện tích 8.941,7m² được 21 tỷ 800 triệu đồng, ông đã thực hiện cho mỗi người con 01 tỷ đồng theo thỏa thuận. Diện tích còn lại 8.706,6m² (trong đó có diện tích 1.424,3m² được cấp giấy) thì năm 2021, ông đã bán cho ông T2, ông N1, ông C2 và ông K tổng diện tích 7.228,3m², hiện tại ông chỉ còn diện tích 1.424,3m².
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì tài sản này gia đình ông đã thống nhất phân chia có biên bản thỏa thuận được chính quyền địa phương ký xác nhận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Phương trình B:
Nguồn gốc đất tranh chấp toạ lạc tại tổ H, ấp C, xã G là do ông Nguyễn Văn H2 tặng cho cha chị, diện tích bao nhiêu thì chị không nhớ, cha chị một mình khai hoang, canh tác, sử dụng cho đến nay. Tại thời điểm đó, cha mẹ chị đã ly hôn không có tài sản chung nên mẹ chị bỏ về huyện A, tỉnh Kiên Giang sinh sống cùng ngoại. Sau đó, cha mẹ chị cùng các chị em trong gia đình lập văn bản thoả thuận giao diện tích đất tranh chấp này cho cha chị toàn quyền sử dụng, khi nào bán được thì cho các con mỗi người 01 tỷ đồng, còn mẹ chị thì cho 150 triệu (vì mẹ chị không có công sức gì trong thửa đất này). Đến năm 2017, cha chị bán thửa đất này được 24 tỷ, cha chị đã thực hiện cho mỗi người 01 tỷ đồng theo văn bản thoả thuận xong. Năm 2018, mẹ chị chết, thì không còn tài sản gì để chia thừa kế.
Nay nguyên đơn khởi kiện là không đúng, vì đất này của cha chị đã chia xong, không còn tài sản gì để chia. Đồng thời, chị cũng không yêu cầu chia thửa đất này. Nếu Toà án có phân chia thì chị xin từ chối và nhường phần của chị lại cho cha là ông Nguyễn Văn S, chị không yêu cầu gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L và chị Nguyễn Thị T:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng chị L và chị T vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc tranh chấp trong vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Công Đ, tại bản tự khai trình bày:
Ngày 16/8/2018, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng CNQSD đất cho ông diện tích đất 2.000m² tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, với giá chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng. Ngày 18/10/2019, ông tiếp tục chuyển nhượng thêm của ông Sĩ diện T6 2.350m², với giá 1.850.000.000 đồng. Như vậy, ông nhận chuyển nhượng tổng cộng là 4.350m². Việc chuyển nhượng hai bên lập hợp đồng tay không có công chứng, chứng thực, đất chuyển nhượng chưa được cấp giấy CNQSD đất. Sau khi chuyển nhượng ông giao đủ tiền cho ông S, ông S giao đất cho ông sử dụng xây dựng hàng rào kiên cố. Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông không có mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Công Đ, ông Nguyễn Xuân K, ông Võ Thanh H, ông Nguyễn Minh T1 và ông Tạ Hoài G tại bản tự khai trình bày:
Ngày 16/8/2018, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng CNQSD đất cho các ông diện tích đất 2.000m² tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, với giá chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng. Ngày 18/10/2019, các ông tiếp tục chuyển nhượng thêm của ông Sĩ diện T6 2.350m², với giá 1.850.000.000 đồng. Như vậy, các ông nhận chuyển nhượng tổng cộng là 4.350m². Việc chuyển nhượng hai bên lập hợp đồng tay không có công chứng, chứng thực, đất chuyển nhượng chưa được cấp giấy CNQSD đất. Sau khi chuyển nhượng các ông giao đủ tiền cho ông S, ông S giao đất cho các ông sử dụng xây dựng hàng rào kiên cố. Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng các ông không có mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Vũ Quang T2, bà Trần Thị C1 trình bày:
Ngày 19/9/2019, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng CNQSD đất cho vợ chồng ông diện tích đất khoảng 4.600m², tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, với giá chuyển nhượng 3.400.000.000 đồng.Việc chuyển nhượng hai bên lập hợp đồng tay không có công chứng, chứng thực, đất chuyển nhượng chưa được cấp giấy CNQSD đất. Sau khi chuyển nhượng vợ chồng ông giao đủ tiền cho ông S, ông S giao đất cho ông sử dụng và xây dựng nhà cấp 4 và hàng rào bao quanh khu đất. Vợ chồng ông không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không yêu cầu độc lập trong vụ án này. Trường hợp Toà án giải quyết quyền lợi của vợ chồng ông bị ảnh hưởng thì vợ chồng ông khởi kiện ông S thành vụ án khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Lê Phước Thành N1, bà Huỳnh Kim T7 trình bày:
Ngày 12/11/2019, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng CNQSD đất cho vợ chồng ông diện tích đất 2.000m², tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, với giá chuyển nhượng 4.000.000.000 đồng.Việc chuyển nhượng hai bên lập hợp đồng tay không có công chứng, chứng thực, đất chuyển nhượng một phần nằm trong thửa số 11, tờ bản đồ số 9, diện tích 1424,3m², theo giấy CNQSD đất số BB 641753 do UBND huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 26/10/2010 cho ông S và phần còn lại chưa được cấp giấy CNQSD đất. Sau khi chuyển nhượng vợ chồng ông giao đủ tiền cho ông S, ông S giao đất cho ông sử dụng và xây dựng nhà cấp 4 và trồng X, Mít. Vợ chồng ông không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không yêu cầu độc lập trong vụ án này. Nay vợ chồng ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Nguyễn Minh C2, bà Nguyễn Thị Mỹ T4, trong đó ông C2 uỷ quyền cho ông V1 Hòa Thuận đại diện trình bày:
Ngày 28/8/2022, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng CNQSD đất cho vợ chồng ông Nguyễn Minh C2, bà Nguyễn Thị Mỹ T4 diện tích đất 1.100m² (ngang 11m x dài 100m), tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, với giá chuyển nhượng là 2.500.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng hai bên lập hợp đồng tay không có công chứng, chứng thực, đất chuyển nhượng một phần nằm trong thửa số 11, tờ bản đồ số 9, diện tích 1424,3m², theo giấy CNQSD đất số BB 641753 do UBND huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 26/10/2010 cho ông S và phần còn lại chưa được cấp giấy CNQSD đất. Sau khi chuyển nhượng vợ chồng ông C2 giao cho ông S 960.000.000 đồng, ông S giao đất cho vợ chồng ông C2 sử dụng. Số tiền còn lại hai bên thoả thuận khi làm xong hàng rào, nếu không ai tranh chấp sẽ thanh toán đủ. Sau khi làm xong hàng rào thì các con ông S vào đập phá. Sự việc được UBND xã G giải quyết giữ nguyên hiện trạng chờ Toà án giải quyết tranh chấp thừa kế giữa các con ông S. Vợ chồng ông C2 không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 12/4/2023, vợ chồng ông C2 yêu cầu độc lập: Công nhận hợp đồng CNQSD đất giữa vợ chồng ông C2 với ông S. Ngày 24/5/2024, vợ chồng ông C2 có đơn xin rút yêu cầu độc lập trên. Trường hợp Toà giải quyết bất lợi cho vợ chồng ông C2 thì vợ chồng ông C2 sẽ khởi kiện ông S thành vụ án khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhận dân, thành phố P uỷ quyền cho ông Huỳnh Văn S1: Không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V2 đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S về việc yêu cầu phân chia di sản thửa kế là quyền sử dụng đất diện tích 8.708,6m² (trong đó, diện tích 1.424,3m² được cấp giấy chứng nhận QSD đất số BB 641753), còn lại diện tích đất 7.284,3m² chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, tọa lạc tại ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh C2, bà Nguyễn Thị Mỹ T4 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn S.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/07/2024 các nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các nguyên đơn ý kiến: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
- Bị đơn ý kiến: Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác kháng cáo của các nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh C2 ủy quyền cho ông Võ Hòa T5. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T, ông Trịnh Công Đ, ông Nguyễn Xuân K, bà Trần Thị C1, ông Lê Phước Thành N1, bà Từ kim T3, ông Tạ Hoài G, ông Võ Thanh H và đại diện hợp pháp của UBND thành phố P đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Ông Nguyễn Minh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Các đồng nguyên đơn cho rằng diện tích đất 8.708,6m² là tài sản chung của và Đ1 và ông S. Bà Đ1 chết không để lại di chúc, do đó ½ diện tích đất này tức 4.354,3m² là di sản thừa kế do bà Đ1 để lại, nhưng ông S không chịu phân chia cho các nguyên đơn, nên các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia diện tích trên thành 05 người gồm 04 nguyên đơn và bị đơn ông S mỗi người diện tích 870,86m²
[2.2]. Bị đơn ông S cho rằng vào ngày 08/5/2017, ông với bà Đ1 đã lập thỏa thuận chia tài sản với nội dung: Toàn bộ thửa đất trên bà Đ1 cùng các con thống nhất giao cho ông đứng tên khi nào bán được thì chia mỗi người 01 tỷ đồng, còn riêng bà Đ1 thì chia 100 triệu đồng. Ngày 09/5/2017, ông cùng bà Đ1 lập văn bản phân chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn với nội dung: Năm 1993, ông S tự tạo lập được phần bất động sản gồm thửa số 7, tờ bản đồ số 9, diện tích 8.941,7m² và thửa số 11, tờ bản đồ số 9, diện tích 8.706,9m² đều tọa lạc tại tổ H, ấp C, xã G cho ông S sử dụng và toàn quyền định đoạt. Ông S đồng ý giao cho bà Đ1 sử dụng giá trị QSD đất bằng 01 cây vàng 24k. Nguồn gốc đất do ông Nguyễn Văn H2 khai phá cất nhà ở và trồng cây lâu năm từ năm 1992 sử dụng đến năm 1993 thì tặng cho ông S sử dụng. Sau đó, ông S bán diện tích 8.941,7m² được 21 tỷ 800 triệu đồng, ông đã thực hiện cho mỗi người con 01 tỷ đồng theo thỏa thuận. Phần diện tích đất còn lại hiện các nguyên đơn đang tranh chấp, ông đã chuyển nhượng cho ông G, ông N1, ông C2, ông K, ông T1, ông T2 và ông H, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, nên các đương sự phát sinh tranh chấp.
[2.3]. Xét kháng cáo của các nguyên đơn bà C, bà P, bà V, ông N HĐXX thấy rằng:
Các đương sự thống nhất xác định nguồn gốc đất vào năm 1993, ông H2 tặng cho ông Sĩ diện T6 đất 8.708,6m² (trong đó, diện tích 1.424,3m² được cấp giấy CNQSD đất số BB 641753), lúc này ông S và bà Đ1 đã sống ly thân nhau nhưng chưa ly hôn, ông S một mình sử dụng và khai phá thửa đất.
Ngày 08/5/2017 ông S và bà Đ1 cùng các con làm Giấy thỏa thuận tài sản với nội dung: Bà Đ1 cùng các con thống nhất giao cho ông S toàn bộ thửa đất này được đứng tên trên giấy CNQSD đất, không tranh chấp và khiếu nại gì về sau. Khi nào ông S bán thì cho mỗi người con 01 tỷ đồng. Đối với bà Đ1 thì cho 100.000.000 đồng. Cam đoan thoả thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc nào, nếu thực hiện sai thì hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, ông S, bà Đ1 và 07 người con cùng ký tên có xác nhận của Ban N2 (BL 29)
Ngày 09/5/2017, ông S và bà Đ1 làm Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn với nội dung: Ông S đồng ý giao cho bà Đ1 toàn bộ giá trị bằng 01 cây (10 chỉ) vàng 24k. Bà Đ1 thống nhất giao toàn bộ thửa đất nói trên cho ông S có quyền quyết định. Kể từ thời điểm ký thoả thuận này, chúng tôi công nhận và thống nhất thửa đất được chia trở thành tài sản riêng của ông S, một mình ông S được toàn quyền đăng ký cấp giấy CNQSD đất và sử dụng toàn bộ thửa đất nêu trên, đồng thời, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người chủ sở hữu trên theo đúng quy định của pháp luật. Việc phân chia này không nhằm mục đích trốn tránh hay để thoát khỏi bất cứ nghĩa vụ dân sự hay khoản nợ vật chất nào của vợ hay chồng. Nếu sai chúng tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật, ông S bà Đ1 ký tên có chứng thực của UBND xã G (BL 28).
Như vậy, kể từ ngày ông S và bà Đ1 lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản của vợ chồng theo 02 văn bản ngày 08/5/2017 và ngày 09/5/2017. Phù hợp với quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Phát sinh hiệu lực từ thời điểm lập văn bản theo Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông S đã thực hiện giao vàng và tiền cho bà Đ1 và các con theo thoả thuận xong. Do đó, diện tích đất 8.706,69m² được xác định là tài sản riêng của ông S, hơn nữa diện tích đất này ông S cũng đã chuyển nhượng lại cho nhiều người khác. Nên việc các đồng nguyên đơn yêu cầu chia diện tích đất trên là không có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 609, 612 và 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 167, 188 Luật Đất đai năm 2013.
Xét việc Bản án sơ thẩm xác định diện tích đất 8.706,69m² là tài sản riêng của ông S là có căn cứ theo quy định tại Điều 38, 39, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên Toà sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi chia tài sản quyền sử dụng đất của các nguyên đơn bà C, bà P, bà V, ông N là có căn cứ, đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các nguyên đơn bà C, bà P, bà V, ông N không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới. Do vậy trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận nội dung kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 15.808.000 đồng, chi phí định giá 48.000.000 đồng. Tổng cộng là 63.808.000 đồng, số tiền này các đồng nguyên đơn đã ứng chi. Do yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn không được Toà án chấp nhận nên các đồng nguyên đơn phải chịu chi phí này. Các đồng nguyên đơn đã nộp xong.
[4]. Về án phí:
Về án phí dân sơ thẩm: Các đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V yêu cầu không được Toà án chấp nhận nên mỗi phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị C đã nộp là 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000592 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy bà C được nhận lại 8.450.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị P đã nộp là 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000594 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy bà P được nhận lại 8.450.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn N đã nộp 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000595 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy ông N được nhận lại 8.450.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị V đã nộp 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000593 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy bà V được nhận lại 8.450.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh C2, bà Nguyễn Thị Mỹ T4 không phải chịu án phí, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006425, ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc các nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm số 300.000 đồng do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu của cơ quan thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 85, 147, 157, 165, 227, 228, 244, 273 và 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Điều 38, 39, 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 609, 611, 612, 613, 614, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013; Điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của các nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn N.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S về việc yêu cầu phân chia di sản thửa kế là quyền sử dụng đất diện tích 8.708,6m² (trong đó, diện tích 1.424,3m² được cấp giấy chứng nhận QSD đất số BB 641753), còn lại diện tích đất 7.284,3m² chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, tọa lạc tại ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh C2, bà Nguyễn Thị Mỹ T4 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn S.
- Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V phải chịu chi phí đo đạc và định giá tổng cộng là 63.808.000 đồng (Sáu mươi ba triệu tám trăm lẻ tám nghìn đồng), các đồng nguyên đơn đã nộp xong.
-
Về án phí:
-
Về án phí sơ thẩm: Buộc các đồng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị C đã nộp là 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000592 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy chị C được nhận lại 8.450.000 đồng (Tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị P đã nộp là 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000594 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy chị P được nhận lại 8.450.000 đồng (Tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Khấu trừ tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Văn N đã nộp 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000595 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy anh N được nhận lại 8.450.000 đồng (Tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị V đã nộp 8.750.000 đồng theo biên lại thu số 0000593 ngày 19/10/2022 của Cơ quan Chi Cục thi hành án Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, như vậy chị V được nhận lại 8.450.000 đồng (Tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Bị đơn ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí.
Hoàn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh C2, bà Nguyễn Thị Mỹ T4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006425, ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-
Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc các nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí phúc thẩm số 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000373 ngày 02/7/2024, 0000374 ngày 02/7/2024, 0000375 ngày 02/7/2024, 0000376 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-
Về án phí sơ thẩm: Buộc các đồng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị V mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Kiên Giang; - TAND Tp. Phú Quốc; - THA dân sự Tp. Phú Quốc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
Bản án số 264/2024/DS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 264/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng nguyên đơn yêu cầu chia diện tích đất 8.708,6m2, chia cho ông Nguyễn Văn s 50% diện tích đất là 4.354,3m2, còn 50% diện tích đất là 4.354,3m2 chia đều cho 05 người con
