Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2639/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-6-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Mai Thanh Giàu

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 671/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 3863/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3864/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1995.

Địa chỉ thường trú: số F Đ, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: số A Đường F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1994.

Địa chỉ: số D N, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 15/3/2024, bản tự khai ngày 09/4/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Y trình bày: Bà và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống với nhau vào tháng 05/2023, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2023. Hai tháng đầu sau khi sống chung, bà và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng: Ông T đã 03 lần đuổi bà ra khỏi nhà. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T không có trách nhiệm với gia đình, không có trách nhiệm với những hành động của mình, không tin tưởng và tôn trọng bà. Tháng 09/2023, khi bà và ông T mâu thuẫn, ông T đã có lời nói hỗn láo với mẹ bà, đuổi bà ra khỏi nhà lần nữa và lấy lý do bà không chịu làm việc nhà, không chịu sinh con để biện minh cho hành động của mình. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay. Bà và mẹ bà cũng lên nhà ông T nhiều lần để giải quyết, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T tỏ vẻ không muốn hòa giải, hàn gắn, ông T còn nhắn tin yêu cầu bà giải quyết ly hôn nhanh để ông T thoải mái và đăng ký kết hôn với người khác. Theo bà được biết ông T cũng đã có quan hệ tình cảm với người khác. Sở dĩ ông T không lên Tòa để giải quyết là do bà và ông T theo đạo Thiên chúa nên ly hôn thì sẽ có tội với C. Do mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông T đã trầm trọng, bà không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Về con chung: Bà và ông T không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông T không có tài sản chung, không có nợ chung.

Y có đơn ghi ngày 17/5/2024 xin vắng mặt trong tất cả các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án, kể cả phiên xét xử. Bà Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày tại Tòa.

Bị đơn ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng ông T vẫn vắng mặt, không có lời khai, và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng và xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định của pháp luật. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phạm Thị Y được ly hôn với ông Nguyễn Thành T; Về con chung: Không có; Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y xác định không có; Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Y phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Phạm Thị Y xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Thành T; ông T hiện đang cư trú tại địa chỉ số D N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Do đó, căn cứ Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn bà Y vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ba Y, ông T.

Đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng khác, người làm chứng nên Hội đồng xét xử không triệu tập người tham gia tố tụng khác, người làm chứng.

[3] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đương sự không bổ sung tài liệu chứng cứ khác.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Trích lục kết hôn số 21/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T cấp ngày 08/01/2024 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Y, ông T là hợp pháp.

Theo kết quả xác minh nơi cư trú do Công an phường L, thành phố T cung cấp thì ông T hiện đang cư trú tại địa chỉ số D N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y hiện đang cư trú tại số A Đường F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này cho thấy, trong quá trình chung sống vợ chồng giữa bà Y, ông T có phát sinh mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng dẫn đến việc cả hai không còn sống chung. Tuy là vợ chồng nhưng giữa bà Y, ông T không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, và thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa án để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa; Điều này thể hiện, ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng. Do đó, việc bà Y yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Y xác định không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y xác định không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Y ly hôn ông Nguyễn Thành T.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 23 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2023 cho bà Phạm Thị Y và ông Nguyễn Thành T không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Không có.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y xác định không có.

  4. Về án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn: 300.000 đồng, bà Phạm Thị Y phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà Y đã nộp theo Biên lai thu số 0025838 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

  5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP Thủ Đức;
  • - UBND P Long Thạnh Mỹ, Tp Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2639/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2639/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Y xin ly hôn ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger