|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 2633/2023/KDTM-ST Ngày 22 tháng 12 năm 2023 V/v “Hợp đồng mua bán hàng hóa". |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Hồng Hương
- Bà Nguyễn Thị Nở
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hải - Kiểm sát viên
Ngày 22/12/2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2022/TLST-KDTM ngày 01/3/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5196/2023/QĐXXST-KDTM ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15622/2023/QĐST-KDTM ngày 29/11/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Zintra LLC
Địa chỉ trụ sở: 1801 NE 123rd S, S, Miami, 33181, USA.
Người đại diện theo ủy quyền:
Đào Thị Trúc V, sinh năm 2000 (có mặt)
Nguyễn Thu N, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: Căn A5.01F-A6.01F Paris H, C đường số A, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2021 được hợp pháp hóa lãnh sự số 2658/HPH/2021 ngày 24/11/2021 và Giấy ủy quyền ngày 20/3/2023)
Bị đơn:
- Công ty TNHH K1
- Công ty Cổ phần T3
Địa chỉ: Văn phòng B, Tầng H, Tòa nhà P, số E Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 4 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền ngày 04/3/2022)
Địa chỉ trụ sở: Số H N, phường B, Quận A, TP .
Đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần T3 tham gia tố tụng: Ông Phạm Thành T, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Địa chỉ: P, Tổ B, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: SAV4-02.25 Tháp S4 Chung cư A, B M, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản số 1610/BB-HĐQT ngày 16/10/2023 về việc cử đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Zintra LLC (viết tắt Z) là một Công ty được thành lập và hoạt động theo pháp luật của Hoa Kỳ. Công ty Cổ phần T3 (Viết tắt Công ty T3) và Công ty TNHH K1 (viết tắt Công ty K1) là các Công ty được thành lập theo P, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp các thiết bị y tế.
Ngày 07/12/2020, bên mua Z - Bên A và bên bán – Bên B: Công ty K1, Công ty T3 đã ký Hợp đồng mua bán số 12DEC/HĐMB/2020 (viết tắt Hợp đồng số 12) để mua 3.080 thùng găng tay Nitrile không bột mang thương hiệu K sản xuất, với tổng số tiền mua là 243.320 USD (Hai trăm bốn mươi ba ngàn ba trăm hai mươi Đô la Mỹ). Theo quy định của Điều 4 hợp đồng Zintra đặt cọc cho Bên bán 40% giá trị Hợp đồng mua bán tương đương với 97.328 USD (Chín mươi bảy ngàn ba trăm hai mươi tám Đô la Mỹ). Số tiền còn lại tương đương với 145.992 USD (Một trăm bốn mươi lăm ngàn chín trăm chín mươi hai Đô la Mỹ) sẽ được thanh toán sau khi hàng hóa được kiểm SGS và hoàn tất thủ tục hải quan.
Ngày 11/12/2020, Z đã chuyển tiền đặt cọc là 97.328 USD để thực hiện hợp đồng cho Bên bán nhưng bên bán không giao hàng.
Tại Văn bản số 26082021/TB-CT ngày 28/8/2021 Công ty K1 xác nhận có nhận đặt cọc là 97.328 USD.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty K1 và Công ty T3 liên đới thanh toán cho Z một lần các khoản sau đây:
- Khoản tiền đặt cọc: 97.328 USD (Chín mươi bảy ngàn ba trăm hai mươi tám Đô la Mỹ);
- Khoản tiền phạt cọc tương đương tiền đặt cọc: 97.328 USD (Chín mươi bảy ngàn ba trăm hai mươi tám Đô la Mỹ);
- Khoản tiền lãi chậm trả khoản tiền đặt cọc là 34.064,8 USD (Ba mươi tư nghìn không trăm sáu mươi bốn Đô la M và tám xu) (tạm tính từ ngày 07/01/2021 đến ngày 22/12/2023 với mức lãi suất là 1% trên mỗi tháng chậm trả) = 1% x 35 (tháng) x 97.328 USD. Bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi do chậm trả tiền cọc cho Z đến khi thanh toán đầy đủ tiền đặt cọc.
Tổng cộng số tiền yêu cầu là: 228.720,8 USD (Hai trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm hai mươi Đô la Mỹ và tám xu), quy đổi số tiền này sang Việt Nam đồng là 5.469.857.932 đồng (theo tỷ giá hối đoái của Ngân hàng N2 ngày 22/12/2023, quy đổi 1 USD = 23.915 VNĐ).
* Bị đơn Công ty T3 trình bày tại buổi không tiến hành hòa giải được ngày 07/11/2023 trình bày:
Công ty chỉ đồng ý trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn là 97.328 USD, ngoài ra Công ty T3 không đồng ý trả các khoản tiền khác do trong hợp đồng không quy định. Hiện nay Công ty T3 đang khởi kiện các đối tác khác ở Thái Lan, Công ty T3 sẽ có văn bản trình bày lộ trình trả lại số tiền 97.328 USD cho nguyên đơn sau khi Tòa án ở Thái Lan có kết quả xét xử.
* Công ty K1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa, không có văn bản trình bày ý kiến.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thời hạn giải quyết chưa đúng quy định pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tiền đặt cọc 97.328 USD và tiền phạt cọc 97.328 USD.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền lãi 34.064.8 USD.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về thẩm quyền:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên mã số doanh nghiệp 0315850177 đăng ký lần đầu ngày 15/8/2019, đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 31/8/2022 tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, Công ty TNHH K1 có trụ sở tại Văn phòng 02, Tầng H, Tòa nhà P, số E Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo pháp luật là ông Phạm Xuân M1.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần M2 đăng ký lần đầu ngày 21/7/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 23/4/2021 tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, Công ty Cổ phần T3 có trụ sở tại số H N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo pháp luật là ông Phạm Minh H.
Do nguyên đơn - ZINTRA LLC có trụ sở tại 1801 NE 123rd S, S, Miami, 33181, USA là đương sự ở nước ngoài nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 30, Khoản 3 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Theo kết quả xác minh do Công an phường T, quận T, Thành phố Hà Nội cung cấp thì ông Phạm Minh H có hộ khẩu thường trú tại số A ngách A phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện tại: P Chung cư H, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. Hiện nay là đối tượng quản lý của địa phương. Công an H2 ra Quyết định khởi tố bị can số 44/QĐ-ANĐT-Đ3 ngày 19/5/2022; áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với ông H nên Tòa án có ban hành Thông báo số 11434/TB-TA ngày 08/9/2023 yêu cầu các thành viên Hội đồng quản trị Công ty T3 cử người đại diện theo pháp luật.
Theo Văn bản số 1610/BB-HĐQT ngày 16/10/2023 về việc cử đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng Công ty đã cử ông Phạm Thành T, sinh năm 1985, Địa chỉ: P, Tổ B, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: SAV4-02.25 Tháp S Chung cư A, số B M, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là đại diện theo pháp luật để tham gia tố tụng.
[1.3] Tại Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại năm 2005 quy định: Áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan: “3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”. Việc các bên ký hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng có liên quan đến đặt cọc để thực hiện hợp đồng không được quy định cụ thể trong Luật thương mại 2005 nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định Bộ luật dân sự năm 2015 để xem xét yêu cầu của nguyên đơn.
[1.4] Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty K1 và Công ty T3 nhưng bị đơn không đến Tòa án, không trình bày ý kiến, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hoà giải, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các bị đơn không đến, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp chứng cứ nên phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Khoản 5, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ như: Hợp đồng mua bán số 12DEC/HĐMB/2020 ngày 04/12/2020; Thông tin chuyển khoản đã được ghi nợ ngày 11/12/2020 do nguyên đơn cung cấp đủ cơ sở xác định nguyên đơn có thỏa thuận với bị đơn để mua găng tay y tế.
Thời điểm các bên ký kết hợp đồng, Công ty K1 do ông Đặng Hồng N1 là người đại diện theo pháp luật và Công ty T3 do bà Trương Thị T1 là người đại diện theo pháp luật. Việc các bên ký kết Hợp đồng mua bán số 12 là giao dịch dân sự “Hợp đồng mua bán”, giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn đã đáp ứng đủ các quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 do vậy giao dịch dân sự phát sinh hiệu lực.
[2.1] Xét yêu cầu đòi tiền cọc và phạt cọc của nguyên đơn:
- Theo Hợp đồng mua bán số 12 Bên bán (bên B) gồm Công ty K1 và Công ty T3, trong hợp đồng bên bán chỉ cung cấp số tài khoản 5911201008630 VNĐ/5911201008646 USD để bên mua Zintra thực hiện đặt cọc cho bên bán.
- Căn cứ tài liệu từ Ngân hàng H3 thì ngày 11/12/2020 nguyên đơn đã chuyển khoản 97.328 USD vào tài khoản của bên bán Công ty T3 theo thỏa thuận tại Điều 4 của hợp đồng.
- Căn cứ Điều 3 Hợp đồng mua bán số 12 thì thời gian giao hàng là sau 25 ngày kể từ ngày ký hợp đồng và bên B nhận được tiền đặt cọc hợp đồng.
Ngày 11/12/2020, Công ty T3 đã nhận được tiền đặt cọc nên thời gian giao hàng là 25 ngày sau khi ký hợp đồng, tức là ngày 05/01/2021. Tại Biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 07/11/2023 đại diện Công ty T3 xác nhận đồng ý trả lại tiền cọc 97.328 USD cho nguyên đơn, không đồng ý trả các khoản tiền khác do hợp đồng không quy định.
Xét nguyên đơn là doanh nghiệp nước ngoài, Công ty T3 là Công ty có chức năng xuất nhập khẩu nên việc ghi giá trong hợp đồng và thanh toán được thực hiện bằng ngoại tệ phù hợp quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Ngoại hối 2013); điểm b Khoản 6, điểm b Khoản 16 của Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26/12/2013 của Ngân hàng N2 nên có hiệu lực.
Nguyên đơn đã chuyển tiền đặt cọc cho bị đơn với số tiền 97.328 USD để đảm bảo thực hiện Hợp đồng mua bán số 12 ngày 07/12/2020. Bị đơn đã không thực hiện đúng các thỏa thuận giao hàng theo nội dung đã thỏa thuận là vi phạm Điều 5.2 Hợp đồng số 12: “Trong trường hợp bên B không giao hàng cho bên A thì bên B sẽ phải trả lại số tiền đã cọc cho bên A và bị phạt số tiền đảm bảo thực hiện hợp đồng cùng với 1% lãi mỗi tháng cho số tiền bên A đã chuyển”; và vi phạm khoản 1 Điều 37 Luật Thương mại 2005 “Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng”.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về trách nhiệm liên đới:
Theo Công văn số số 26082021/TB-CT ngày 28/8/2021 Công ty K1 xác định chưa nhận được tiền từ Công ty T3 chuyển qua nên chưa thực hiện nghĩa vụ giao 3.080 thùng găng tay cho Z.
Theo Hợp đồng số 12 bên bán là Công ty T3, Công ty K1 nhưng chỉ ghi số tài khoản của Công ty T3, bên mua đã chuyển tiền theo số tài khoản của Công ty T3 nhưng trách nhiệm thực hiện hợp đồng vẫn thuộc về bị đơn là 02 Công ty nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn liên đới trả tiền cọc và phạt cọc cho nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy Công ty T3, Công ty K1 có nghĩa vụ thanh toán tiền cọc đã nhận 97.328 USD và khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc là 97.328 USD, tổng cộng 194.656 USD tương đương 4.655.198.240 đồng là phù hợp Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận (theo tỷ giá hối đoái của Ngân hàng N2 ngày 22/12/2023, quy đổi 1 USD = 23.915 VNĐ).
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi 1%/tháng tạm tính từ ngày 07/01/2021 đến ngày 22/12/2023.
Nguyên đơn cho rằng bị đơn đã vi phạm hợp đồng, không giao hàng đúng thời hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng thì phải có trách nhiệm hoàn trả tiền đặt cọc, phạt cọc cho nguyên đơn và trả lãi chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 và Điều 5.2 của hợp đồng, mức lãi suất 1% tháng tính từ ngày tiếp theo ngày dự kiến giao hàng là ngày 07/01/2021 đến ngày 22/12/2023 (35 tháng) số tiền 34.064.8 USD tương đương 814.659.692 đồng.
Xét số tiền 97.328 USD nguyên đơn đặt cọc cho Công ty T3 là để đảm bảo thực hiện hợp đồng, do hợp đồng không thực hiện xem như bị đơn đã từ chối thực hiện hợp đồng nên bị phạt cọc. Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định về tiền cọc và phạt cọc mà không có quy định về tiền lãi, vì vậy, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận thanh toán lãi suất 1%/tháng nếu bên bán không giao hàng tại điều 5.2 hợp đồng là không phù hợp quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi 34.064.8 USD tương đương 814.659.692 đồng cho nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét thời gian trả: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu trả một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do Công ty T3, Công ty K1 có nghĩa vụ liên đới trả tiền nên Công ty T3, Công ty K1 có nghĩa vụ liên đới nộp án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30; Khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Khỏan 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự ;
- Căn cứ các Điều 4; Điều 306; Điều 314, Luật thương mại năm 2005;
- Căn cứ Điều 328, Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Zintra LLC.
- Buộc Công ty Cổ phần T3 và Công ty TNHH K1 có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ZINTRA LLC 194.656 USD (Một trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi sáu Đô la Mỹ) tương đương 4.655.198.240 đồng (Bốn tỷ sáu trăm năm mươi lăm triệu một trăm chín mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi đồng) bao gồm tiền đặt cọc 97.328 USD và phạt cọc 97.328 USD. Tất cả trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ZINTRA LLC về việc buộc Công ty Cổ phần T3 và Công ty TNHH K1 trả tiền lãi do chậm thanh toán 34.064.8 USD tương đương 814.659.692 đồng (T2 trăm mười bốn triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng).
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần T3 và Công ty TNHH K1 có trách nhiệm liên đới chịu 112.655.198 đồng (Một trăm mười hai triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn một trăm chín mươi tám đồng).
- Báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
ZINTRA LLC phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 36.439.791 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm chín mươi mốt đồng), cấn trừ vào số tiền đã nộp 56.352.908 đồng (Năm mươi sáu triệu ba trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám đồng) theo Biên lai thu số 0001767 ngày 16/02/2022 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. H1 lại cho ZINTRA LLC 19.913.117 đồng (Mười chín triệu chín trăm mười ba nghìn một trăm mười bảy đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Thảo |
Bản án số 2633/2023/KDTM-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 2633/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền găng tay
