|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 2630/2024/DS-ST Ngày: 21/6/2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 303/2023/TLST– DS ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2284/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 3275/2024/QĐH-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trân Quốc H; ông Trân Văn T; ông Phạm Văn T1 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ liên hệ: Tâng A tòa nhà A, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
(Giấy ủy quyền số 9767/2023/UQ-VPB ngày 15/11/2023)
2. Bị đơn:
- Ông Nguyễn Chí H1, sinh năm 1996.
Thường trú: 191/22 Đường A, Tổ A, Khu phố D, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Nhâm T2, sinh năm 1992
Thường trú: Thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/12/2022 và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng:
Ngày 26/01/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi nhánh H3 (Sau đây gọi là Ngân hàng V) đã ký ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 kết Hợp đồng tín dụng sau: số LN2201075045382 với các nội dung như sau:
- Số tiền vay: 6.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ tám trăm triệu đồng).
- Mục đích vay: Vay mua bất động sản tại thửa đất số 218 TBĐ số 45; địa chỉ Phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí minh.
- Thời hạn vay: 300 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên Bên vay.
- Phương thức điều chỉnh lãi suất: Lãi suất cho vay 9.9%/năm. Cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần.
Tài sản thế chấp để bảo đảm khoản vay là: Quyền sử dụng đất của Bên thế chấp đối với thửa đất số: 218, tờ bản đồ số: 45, tổng diện tích: 75 m² tại Phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 910006, Số vào sổ cấp GCN: CH05982 do UBND quận T (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2019; Cập nhật biến động ngày 25/01/2022 sang cho ông Nguyễn Chí H1.
Hợp đồng thế chấp ký ngày 28/01/2022, công chứng số 002605, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T.
Thực hiện hợp đồng Ngân hàng V đã giải ngân số tiền 6.800.000.000 đồng cho bên vay. Ông H1 và bà T2 đã thanh toán được số tiền là 428.188.207 đồng, trong đó gốc là: 0 đồng, lãi là: 428.188.207 đồng.
Do ông H1 và bà T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 15/10/2022 nên Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn và khởi kiện.
Dư nợ tạm tính đến ngày 21/6/2024 của ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 tại Ngân hàng V theo Hợp đồng tín dụng trên là 9.072.167.635 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu bảy nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc là 6.800.000.000 đồng và lãi quá hạn là 2.272.167.635 đồng.
Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
1. Ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 có trách nhiệm thanh toán một lần cho Ngân hàng V tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 21/6/2024 là 9.072.167.635 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu bảy nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng)), trong đó nợ gốc là 6.800.000.000 đồng và lãi quá hạn là 2.272.167.635 đồng.
Ngoài ra, ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 phải thanh toán cho Ngân hàng V số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 22/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
2. Trường hợp, ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo thế chấp là Quyền sử dụng đất của Bên thế chấp đối với thửa đất số: 218, tờ bản đồ số: 45, tổng diện tích: 75 m² tại Phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 910006, Số vào sổ cấp GCN: CH05982 do Ủy ban nhân dân quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2019; Cập nhật biến động ngày 25/01/2022 sang cho ông Nguyễn Chí H1.
3. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên mà ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 vẫn chưa trả hết nợ thì bà vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại.
Bị đơn ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2, đã được toà án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản nên căn cứ khoản 3 Điều 26, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc, Hội đồng xét xử xét thấy.
Bị đơn ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 vắng mặt trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án và không có văn bản phản hồi đối với các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng V xuất trình. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng V xuất trình thuộc trường hợp không cần phải chứng minh.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số LN2201075045382 ngày 26/01/2022, thể hiện: Ngân hàng V cho ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 vay số tiền 6.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ tám trăm triệu đồng).
Căn cứ Giấy đề nghị giải ngân ngày 26/01/2022, thể hiện ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 đã nhận tiền vay, số tiền giải ngân là 6.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ tám trăm triệu đồng) theo hình thức chuyển khoản. Như vậy, có căn cứ để xác định Ngân hàng V cho ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 vay số tiền nợ gốc là 6.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ tám trăm triệu đồng). Phía nguyên đơn cho rằng bị đơn đã thanh toán 428.188.207 đồng, trong đó gốc là: 0 đồng, lãi là: 428.188.207 đồng nhưng tới ngày 15/10/2022 không tiếp tục thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, yêu cầu ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 có mặt tại Tòa để cung cấp lời khai, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 vẫn vắng mặt không lý do, không phản hồi đối với các ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, trình bày của nguyên đơn cho hiện ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên vay được quy định tại Điều 5 của hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Căn cứ Điều 463, Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V: Buộc ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 thanh toán số tiền nợ gốc là 6.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ tám trăm triệu đồng.
[3.2] Đối với yêu cầu tiền lãi: Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng. Lãi suất các bên thỏa thuận là 9.9%/năm, cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần, lãi quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn. Căn cứ Điều 2 của Hợp đồng tín dụng nói trên, ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền nợ gốc nên toàn bộ số nợ chuyển sang nợ quá hạn. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V về số tiền lãi: Buộc ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 có trách nhiệm trả nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 21/6/2024 là 2.272.167.635 đồng. Từ ngày 22/6/2024, tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi bị đơn thanh toán dứt nợ.
[3.3] Đối với tài sản thế chấp: Tại Hợp đồng thế chấp ký ngày 28/01/2022, công chứng số 002605, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/01/2022 tại Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T. Ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 tự nguyện thế chấp là Quyền sử dụng đất của Bên thế chấp đối với thửa đất số: 218, tờ bản đồ số: 45, tại Phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 910006, Số vào sổ cấp GCN: CH05982 do Ủy ban nhân dân quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2019; Cập nhật biến động sang cho ông Nguyễn Chí H1 ngày 25/01/2022 để đảm bảo cho khoản vay. Căn cứ vào Điều 317, Điều 318, Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V đối với yêu cầu: Trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì khách hàng vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.
[3.4] Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo phiếu thu ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã tạm ứng.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng V được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 phải chịu tiền án phí. Ngân hàng V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điều 317; Điều 319; Điều 320; Điều 463; Điều 465; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần V:
Buộc ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/6/2024 là 9.072.167.635 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu bảy nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng)), trong đó nợ gốc là 6.800.000.000 đồng và lãi quá hạn là 2.272.167.635 đồng.
Ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 22/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2201075045382 ngày 26/01/2022 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trong trường hợp, ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số: 218, tờ bản đồ số: 45, tại Phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 910006, Số vào sổ cấp GCN: CH05982 do Ủy ban nhân dân quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2019 cho ông Huỳnh Văn M, bà Lê Thị Kim H2; Cập nhật biến động sang cho ông Nguyễn Chí H1 ngày 25/01/2022 theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 28/01/2022, công chứng số 002605, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Nguyễn Chí H1, bà Nguyễn Thị Nhâm T2 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi Nhánh G.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản thế chấp vẫn không đủ để trả nợ thì ông Nguyễn Chí H1 và bà Nguyễn Thị Nhâm T2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số LN2201075045382 ngày 26/01/2022 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Buộc ông Nguyễn Chí H1, bà Nguyễn Thị Nhâm T2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
3. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm là 117.072.168 (một trăm mười bảy triệu không trăm bảy mươi hai nghìn một trăm sáu mươi tám) đồng ông Nguyễn Chí H1, bà Nguyễn Thị Nhâm T2 phải chịu, ông Nguyễn Chí H1, bà Nguyễn Thị Nhâm T2 chưa nộp tiền án phí.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được nhận lại tiền tạm ứng án phí 57.533.572 (năm mươi bảy triệu năm trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bảy mươi hai ) đồng theo Biên lai thu số 0008101 ngày 17/02/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 2630/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2630/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đòng vay tài sản
