Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Năm
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường 5 – trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 256/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Huỳnh Kim T (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1996. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: 163/25, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không. Họ tên cha: Huỳnh Văn P, sinh năm 1974 (còn sống). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Phương P1, sinh năm 1976 (còn sống). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Đầu thú và bị bắt tạm giam ngày 16/12/2023 theo lệnh bắt bị can để tạm giam số 1870/CSĐT ngày 24/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Công ty TNHH T3.

Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Long H – chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: ông Lê Minh H1, sinh năm 1996.

Địa chỉ: số C, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung sự việc của vụ án:

Huỳnh Kim T là nhân viên giao hàng của Công ty TNHH T3 và được phân công làm việc tại kho giao nhận hàng B. Nhiệm vụ của T là hàng ngày nhận các đơn hàng từ kho để đi giao cho khách hàng và thu tiền của khách hàng thanh toán đem về nộp lại cho công ty. Quá trình làm việc T phát hiện công ty không quản lý chặt chẽ đơn hàng trên hệ thống phần mềm nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền đã thu được của khách hàng với thủ đoạn sau khi giao hàng và thu được tiền T sẽ nộp về công ty ít hơn số tiền đã thu hoặc không cập nhật kết quả đã thu tiền lên hệ thống phần mềm quản lý giao nhận hàng của công ty để chiếm đoạt.

Từ ngày 30/5/2023 đến ngày 20/6/2023 T đã chiếm đoạt tiền của công ty, cụ thể như sau:

Lần 01: Ngày 30/5/2023, sau khi giao xong 96 đơn hàng của ngày 29/5/2023 và thu được tổng cộng 48.242.699 đồng (Bốn mươi tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng) T chỉ nộp về công ty 15.632.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng) và chiếm đoạt số tiền 32.610.699 đồng (Ba mươi hai triệu sáu trăm mười nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng), T dùng trả nợ cho người tên T1 (không rõ họ, địa chỉ).

Lần 02: Ngày 19/6/2023, T giao được 04 đơn hàng và thu được tổng cộng 6.052.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi hai nghìn đồng) nhưng T không cập nhật lên hệ thống phần mềm quản lý giao nhận hàng của công ty và chiếm đoạt hết số tiền này đem trả nợ cho người tên Q (không rõ họ, địa chỉ).

Lần 03: Ngày 20/6/2023, T giao được 26 đơn hàng và thu được tổng cộng 23.469.420 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi đồng) nhưng T không cập nhật lên hệ thống phần mềm quản lý giao nhận hàng của công ty và chiếm đoạt hết số tiền này đem trả nợ cho người tên Q (không rõ họ, địa chỉ).

Sự việc xảy ra Công ty TNHH T3 đã trình báo Công an phường B lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xác minh. Ngày 16/12/2023, Huỳnh Kim T ra đầu thú và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt tạm giam để điều tra, xử lý.

Lời khai bị can tại các bút lục (71-82);

Lời khai người liên quan tại các bút lục (34-38; 40-44; 46-50).

2. Về vật chứng của vụ án:

không có.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Công ty TNHH T3 yêu cầu Huỳnh Kim T bồi thường 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng). Hiện bị cáo chưa bồi thường cho bị hại.

4. Truy tố:

  • Tại Bản cáo trạng số: 263/CT-VKSBH-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Kim T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Kim T mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên buộc bị cáo Huỳnh Kim T bồi thường cho Công ty TNHH T3 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng).

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

5. Ý kiến của bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại tại phiên tòa:

Bị cáo trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả. Do cần tiền cho mục đích cá nhân nên bị cáo đã chiếm đoạt tiền từ các đơn hàng được giao, gây thiệt hại cho Công ty.

Ông Lê Minh H1 - đại diện theo ủy quyền của bị hại trình bày: Công ty TNHH T3 vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường cho công ty số tiền đã chiếm đoạt là 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng). Công ty không có ý kiến gì về hình phạt đối với bị cáo, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi truy tố và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện theo pháp luật/đại diện theo ủy quyền của bị hại, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập. Qua đó đã có đủ cơ sở kết luận:

Huỳnh Kim T là nhân viên giao hàng làm việc cho Công ty TNHH T3 được phân công nhiệm vụ đi giao hàng cho khách hàng rồi thu tiền của khách hàng giao lại cho Công ty. Từ ngày 30/05/2023 đến ngày 20/6/2023, T đã lợi dụng nhiệm vụ được giao thu tiền của khách hàng nhưng nhưng không cập nhật hoặc cập nhật không đầy đủ lên hệ thống phần mềm quản lý giao nhận hàng của công ty, không nộp tiền về công ty theo quy định mà chuyển dịch bất hợp pháp tài sản của Công ty T4 của mình và sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Cụ thể:

Lần 01: Ngày 30/5/2023, chiếm đoạt số tiền 32.610.699 đồng (Ba mươi hai triệu sáu trăm mười nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).

Lần 02: Ngày 19/6/2023, chiếm đoạt số tiền 6.052.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Lần 03: Ngày 20/6/2023, chiếm đoạt số tiền 23.469.420 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi đồng).

Số tiền chiếm đoạt tổng cộng 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng).

Sau đó T bị phát hiện và khởi tố để điều tra, xử lý.

Như vậy, bị cáo Huỳnh Kim T là người được giao nhiệm vụ quản lý tài sản của Công ty TNHH T3 đã lợi dụng nhiệm vụ được giao 03 lần chiếm đoạt của công ty tổng số tiền 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

[3] Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, tổ chức được Nhà nước bảo vệ, làm mất trật tự xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự có đủ khả năng nhận thức được hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tài sản của Công ty nhằm mục đích tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn thực hiện. Do đó, cần phải có một mức hình phạt nghiêm minh để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa ông Lê Minh H1 - đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty TNHH T3 vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị cáo Huỳnh Kim T bồi thường số tiền 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu của Công ty TNHH T3 là phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, buộc bị cáo Huỳnh Kim T phải bồi thường cho Công ty TNHH T3 số tiền đã chiếm đoạt 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng).

[5] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Huỳnh Kim T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.106.606 đồng (Ba triệu một trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện của bị hại tại phiên tòa:

  • Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.
  • Đối với phần trình bày của bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357, khoản 2 Điều 468, các Điều 584, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim T phạm tội “Tham ô tài sản”.
  2. Xử phạt Huỳnh Kim T 07 (bảy) năm tù. Thời chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 16-12-2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc bị cáo Huỳnh Kim T bồi thường cho Công ty TNHH T3 số tiền: 62.132.119 đồng (sáu mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười chín đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí sơ thẩm:

    Buộc bị cáo Huỳnh Kim T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.106.606 đồng (Ba triệu một trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Huỳnh Kim T, bị hại Công ty TNHH T3 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện Bị hại;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phú

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tham ô tài sản

  • Số bản án: 263/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Kim Th phạm tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger