Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2023/HS-ST

Ngày 28-8- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lợi và bà Phạm Tú Nhi.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường A Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2023/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2023/QĐXXST-HS ngày 04/8/2023 đối với bị cáo:

Lê Hoàng D, sinh ngày 06/02/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Không; chỗ ở:1 khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lê Trí Đ, sinh năm 1969 và con bà Hoàng Thị Hải L, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 02/4/2023, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo D

  1. Ông Lê Văn N – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nam Sài Gòn
  2. Ông Phạm Ngọc T – Luật sư thuộc Văn phòng L1 (có mặt ông N, ông T).

Bị hại: Anh Hà Vĩ K, sinh ngày 15/3/2004; thường trú: Ấp I xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, có mặt

Người làm chứng: 1. Anh Trần Tấn P ; 2. Em Phạm Ngọc Minh N1; 3. Ông Lê Trí Đ (có mặt ông Đ, vắng mặt anh P, anh N1)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Hoàng D cùng với Hà Vĩ K, Phạm Ngọc Minh N1 và Trần Tấn P là bạn hay chơi chung Game Liên Quân từ khoảng đầu tháng 3/2023. Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 01/4/2023, D đón xe buýt từ chỗ ở của mình đến ký túc xá khu B - Đại học Quốc gia thành phố H địa chỉ khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương khi xe đi đến trạm xe buýt D đứng chờ P đến chở về Nhà văn hóa sinh viên Đại học quốc gia chơi G, khi đến nhà văn hoá gặp K, N. Cả nhóm ăn uống chơi Game chung. Đến 22 giờ 15 phút cùng ngày khi ngồi chơi D nhìn thấy điện thoại di động của anh K nên muốn chiếm đoạt, khi cả nhóm nghỉ chơi và xuống lấy xe ra về. P, N1 dắt xe mô tô ra trước, K đi về hướng nhà vệ sinh, D đi theo phía sau K, khi đến trước nhà vệ sinh D gặp anh K nói “điện thoại tao hết pin, cho tao mượn điện thoại đăng nhập Messenger nhắn tin”. K đưa điện thoại di động cho D, D đứng sử dụng điện thoại (giả bộ), khi anh K đi vào nhà vệ sinh D mở máy điện thoại anh K và chuyển qua chế độ máy bay, đồng thời chuyển chế độ điện thoại của mình sang chế độ máy bay, đi bộ ra ngoài đặt xe G1 về nhà trọ. D mở điện thoại của K thay đổi mật khẩu điện thoại từ “150304” thành “060220” rồi tắt nguồn. Anh K đi ra gặp P, N1 và không thấy D, anh K mượn điện thoại của bạn gọi cho D, điện thoại vào máy của mình nhưng không liên lạc được. Sáng ngày 02/4/2023, anh K định vị được điện thoại của mình và trình báo Công an phường Đ. Sau đó anh K cùng Công an phường Đ đến địa chỉ định vị gặp D thu giữ được điện thoại của anh K. Qua làm việc D khai nhận việc chiếm đoạt điện thoại của anh K.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, loại 128GB màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 48/BBĐG - HĐĐGTS ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, loại 128GB màu đen, trị giá 24.000.000 đồng.

Vật chứng đã xử lý: Trả lại anh Hà V Khang 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, loại 128GB màu đen.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Vĩ K không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 244/CT – VKS ngày 05 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Hoàng D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Bị hại anh Hà V K không tranh luận, bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Anh K đề nghị Hội đồng xét xử xử theo quy định của pháp luật để mang tính răn đe, chứ không thể vì hoàn cảnh khó khăn của mình mà vi phạm pháp luật.

Bài bào chữa của luật sư cho bị cáo D: Thống nhất về tội danh, bản luận tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên đã nêu ra tại phiên toà đối với bị cáo Lê Hoàng D. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm, bị cáo nhất thời phạm tội do điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo thiếu sự chăm sóc của người mẹ. Gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về hoà nhập cộng đồng làm người công dân tốt.

2

Bị cáo D không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo D không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Chứng cứ xác định có tội của bị cáo Lê Hoàng D: Do có ý định lấy điện thoại của anh Hà Vĩ K. Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 01/4/2023, bị cáo D nói dối anh K để anh K cho mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, loại 128GB màu đen để nhắn tin, sau khi được anh K cho mượn điện thoại và đợi anh K đi vào nhà vệ sinh. D đã cầm điện thoại anh K ra bắt xe Grap về phòng ở trọ. Điện thoại di động của anh K qua định giá có giá trị 24.000.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo D là hành vi của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 244/CT – VKS ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên toà hôm nay là có căn cứ pháp luật.
  3. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D không có.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội.
  6. [6] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo D phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản bị hại K được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
  7. [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại K đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xét.
  8. [8] Đối với bài bào chữa của luật sư đưa tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo D phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử vì vậy được chấp nhận.

3

Riêng mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc đối với bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[9] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân mức hình phạt đối với bị cáo D phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo D phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng D 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam 02/4/2023.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14
  4. Bị cáo Lê Hoàng D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Dĩ an;
  • - Công an Dĩ an;
  • - Chi cục THA dân sự Dĩ an;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD;
  • - TAND tỉnh BD;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh BD;
  • - Phòng PC 10 CA tỉnh BD;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: VT, HS. Vũ Linh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Linh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 263/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo D có hành vi gian dối chiếm đoạt điện thoại của anh K có trị giá 24.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger