Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN H

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 263/2023/HSST

Ngày 27/10/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Tạ Thị Thà

- Bà Nguyễn Anh Thư.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Minh - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 282/TLST - HS ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn H, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; HKTT: xã Đức Thắng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn Hợp, sinh năm 1970 (đã chết); con bà Trần Thị Hoàn, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hoàng Thị Thu Hương, sinh năm 1997 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; theo Danh chỉ bản số 480 do Công an quận H lập ngày 09/7/2023.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố:

Vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 30/6/2023, tại khu vực đầu ngõ 226 phố Định Công, phường Định Công, quận H, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường Định Công bắt quả tang H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện H cất giấu trong người 01 túi nilon kích thước khoảng (01x01) cm (bên trong có tinh thể màu trắng), H khai là ma túy mua để sử dụng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ và niêm phong vật chứng (nghi ma túy) và đưa về trụ sở cơ quan Công an để điều tra.

Vật chứng vụ án:

Thu giữ của H: 01 túi nilon kích thước khoảng (01x01) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng(nghi ma tuý);01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng số Imei 353241101328493;

Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/6/2023, H đang ở nhà trọ tại phường V, quận H, thành phố Hà Nội, nhận được điện thoại của Tùng là bạn quen biết xã hội (không rõ lai lịch) gọi điện cho H vào số điện thoại 0965.998.xxx để rủ H cùng sử dụng ma tuý, H đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì Tùng sử dụng số điện thoại 0329.026.xxx gọi đến số điện thoại của H nói H ra đầu ngõ nơi H trọ để lấy ma tuý. Đến khoảng 20 giờ 05 phút có một người sử dụng số điện thoại 0369.598.xxx gọi vào số điện thoại của H nói H ra lấy ma túy. Tại đây H gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân) đưa cho H 01 túi nilon kích thước khoảng (01x01)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý đá. H không phải trả tiền, sau khi nhận ma tuý, H cất vào trong cạp quần phía trước với mục đích mang đi tìm nơi sử dụng. Sau đó, Tùng gọi điện cho H nói mang ma tuý sang khu vực Định Công để cùng sử dụng, H thuê xe taxi đến khu vực cầu Định Công, đi bộ vào khu vực Định Công, khi đi đến đầu ngõ 226 phố Định Công để tìm nơi sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện kiểm tra bắt giữ thu giữ vật chứng như nội dung trên.

Kết luận giám định số 4559/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,401 gam.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H (theo lời khai của H), Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện không xác định được. Ngoài lời khai của H, hiện không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định đối tượng đã bán ma túy, do đó không có căn cứ để xác minh điều tra làm rõ.

Đối với số điện thoại 0329.026.xxx của đối tượng Tùng, xác định chủ sở hữu là Phạm Thị Thanh (sinh năm: 1996; Địa chỉ: Thôn 8, Cát Quế, Hoài Đức, Hà Nội), Thanh khai: trước đây Thanh có mua số điện thoại 0329.026.xxx, sử dụng đăng ký chính chủ, sau đó bị rơi chiếc điện thoại gắn chiếc sim nêu trên, Thanh không biết hiện nay ai đang sử dụng số điện thoại trên.

Đối với số điện thoại 0369.598.xxx là số H gọi trong danh sách cuộc gọi, xác định chủ sở hữu Võ Thị Thanh Hương (sinh năm: 1991; Địa chỉ: Hàm Đức, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận), Hương khai: trước đây Hương có mua số điện thoại 0369.598.xxx sử dụng đăng ký chính chủ, sau đó không có nhu cầu sử dụng nên đã bán cho một người không quen biết, Hương không biết hiện nay ai đang sử dụng số điện thoại trên.

Đối với số điện thoại 0965.998.xxx, xác định chủ sở hữu là H.

Quá trình điều tra: bị can H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 274/CT-VKS-HM, ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

[2] Tại phiên tòa:

Bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội.

Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tích chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Xử phạt: bị cáo từ 18 tháng đến 22 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,401gam Methamphetamine.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng số Imei 353241101328493;

[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không tranh luận với Kiểm sát viên.

[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ, niêm phong và mở niêm phong tang vật; Quyết định trưng cầu giám định xác định khối lượng, loại ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H, Thành phố Hà Nội; Kết luận giám định số 4559/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện:

Vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 30/6/2023; H đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,401 gam. Nguồn gốc số ma túy này do bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại ngõ 321, phố Vĩnh Hưng, phường Vĩnh Hưng, quận H, Hà Nội, mục đích bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân. Sau khi bị cáo mua được 01 gói ma túy, bị cáo cất vào trong cạp quần phía trước với mục đích mang đi tìm nơi sử dụng. Sau đó, Tùng gọi điện cho H nói mang ma tuý sang khu vực Định Công để cùng sử dụng, bị cáo thuê xe taxi đến khu vực cầu Định Công, đi bộ vào khu vực đầu ngõ 226 phố Định Công để tìm nơi sử dụng, thì bị tổ công tác Công an phường Định Công kiểm tra bắt quả tang và lập biên bản thu giữ tang vật.

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Xác định hành vi của bị cáo là tội phạm nghiêm trọng; ma túy bị cáo tàng trữ loại Methamphetamine có khối lượng là 0,401 gam. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người; đồng thời là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự và áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo H có Bị cáo trước khi phạm tội lần này nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều nhận tội và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Đối với tội phạm về ma túy, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[4] Biện pháp tư pháp: Đối với 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,401 gam Methamphetamine; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng, số Imei 353241101328493 là tang vật của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; do vậy khi giải quyết cần căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định, cần:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,401 gam Methamphetamine;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng, số Imei 353241101328493;

[5] Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và đối tượng tên Tùng rủ bị cáo mua ma túy để sử dụng, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý, là có cơ sở.

[6] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 01/7/2023.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Các vấn đề khác: Không xét.
  5. Biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,401 gam Methamphetamine;
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng, số Imei 353241101328493;

    Toàn bộ vật chứng nêu trên, đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận H, Thành phố Hà Nội, theo Phiếu nhập kho vật chứng, tài sản số NK2024-0008, ngày 17/10/2023.

  6. Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận H, TP. Hà Nội;
  • - Công an quận H, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS quận H;
  • - Trại tạm giam số 2, CA. Thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2023/HSST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 263/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger