Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2023/HS-ST

Ngày 21-08-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Phước Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh

2. Ông Trần Quốc Đấu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thành – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 191/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2023/QĐST-HS ngày 28/7/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/02/1988 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối A, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn K - Sinh năm 1961; Họ tên mẹ: Lê Thị T1 - Sinh năm 1963; Anh chị em ruột: có 03 người; Bị can là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Phạm Thị Huyền T2; Sinh năm 1996; Con: có 02 người con; Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án: - Ngày 10/01/2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt.

- Ngày 24/01/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa thi hành phần bồi thường dân sự.

- Ngày 28/9/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tại Bản án số 24/2012/HS-ST ngày 28/9/2012 xác định bị cáo tái phạm do chưa thi hành phần bồi thường dân sự của Bản án ngày 24/01/2008).

- Ngày 30/12/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tại Bản án số 46/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 xác định bị cáo tái phạm do chưa thi hành phần bồi thường dân sự của Bản án ngày 24/01/2008). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/6/2022.

Nhân thân: Ngày 10/10/2004, bị công an thị xã C lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Văn T đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N; Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Ngô Văn T3, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: khối G, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: xóm Đ, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Ngô Văn T3 sinh năm 1989 trú tại khối G, thị trấn Đ, huyện Đ là chủ quán sửa chữa xe máy có địa chỉ tại xóm Đ, xã H, thành phố V. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/02/2023, anh T3 có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh dương, dụng lượng 64 Gb trên chiếc bàn nhựa, màu đỏ ở khu vực cửa ra vào của quán để con gái là cháu Ngô Cao Hà M sinh ngày 27/5/2021 ngồi ở ghế xem. Cùng lúc này, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, màu đen đỏ biển kiểm soát 37S1 – 064.01 đi vào khu vực quán của anh T3 để bơm lốp xe. Khi đi vào, thấy cháu Hà M đang ngồi ở ghế xem điện thoại, lợi dụng cháu M còn nhỏ nên sơ hở trong việc bảo vệ, quản lý tài sản của anh T3 nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. T quay đầu xe, mở khóa nổ

sẵn rồi đi đến dùng tay phải lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo khoác bên phải nhanh chóng lên xe tăng ga bỏ chạy. Lúc này, anh T3 đang ở trong quán nghe tiếng cháu Hà M khóc chạy ra xem phát hiện thấu T nên đuổi theo nhưng không kịp. T điều khiển xe bỏ chạy theo đường 35 mét đi về nhà. Quá trình bỏ chạy, Nguyễn Văn T đã làm rơi chiếc điện thoại dọc đường, không rõ vị trí nên hiện chưa thu hồi được. Sau khi xảy ra sự việc, anh Ngô Văn T3 viết đơn trình báo Cơ quan công an và cung cấp 01 tệp video có tên “881228509620354057.mp4" được trích xuất từ Camera tại quán anh T3 ghi lại diễn biến vụ việc. Ngày 22/02/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Nguyễn Văn T đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. (BL: 42,52-54,59,75-78).

Ngày 28/02/2023, Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố V có văn bản số 27/KL-ĐGTS, kết luận:

“ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, chưa thu hồi thời điểm định giá ngày 06/02/2023 là 7.000.000 đồng”.

Ngày 17/4/2023, Phòng K1 Công an tỉnh N có văn bản số 39/KL-KTHS (DD3-KTSĐT) kết luận:

“ Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp Video có tên “881228509620354057.mp4” gửi tới giám định”. (BL: 37-40).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen đỏ biển kiểm soát 37S1 – 064.01 tạm giữ là tài sản của chị Lê Thị T1; chị T1 không biết việc T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T1.

Về trách nhiệm dân sự: anh Ngô Văn T3 yêu cầu bồi thường số tiền 8.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Hiện bị cáo chưa bồi thường.

Bản Cáo trạng số 197/CT-VKS-TPV ngày 8 tháng 06 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn T

về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự 2015; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 42 đến 48 tháng tù. Về phần dân sự: buộc bị cáo bồi thường dân sự cho người bị hại; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố V đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại trong vụ án trình bày: Đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại là 8.000.000 đồng; về vấn đề hình sự đề nghị Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như

vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/02/2023 tại xóm Đ, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, khi thấy gia đình anh Ngô Văn T3 để 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh dương, dung lượng 64 Gb, trị giá 7.000.000 đồng ở bàn nhựa ngay khu vực cửa ra vào của quán sửa chữa xe máy cho cháu Ngô Cao Hà M sinh năm 2021 ngồi xem thì Nguyễn Văn T đi đến lấy nhanh chóng lấy chiếc điện thoại rồi nhanh chóng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, màu đen đỏ biển kiểm soát 37S1 – 064.01 bỏ chạy. Nguyễn Văn T đã tái phạm chưa được xóa án tích nay nên lại thực hiện hành phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2.2].Tính chất vụ án là nghiêm trọng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xử phạt nghiêm, bị cáo là người nhân thân xấu, đã từng bị xử lý hình sự nhiều lần, nhưng không lấy đó làm bài học tu luyện bản thân mà còn đi con đường phạm tội, vậy nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T, quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo N thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Vậy nên, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo tốt, sớm quay lại với cộng đồng, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[2.4]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là người không có nghề nghiệp, hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2.5]. Về bồi thường dân sự: Người bị hại anh Ngô Văn T3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do bị cáo gây ra là 8.000.000 đồng; Tại phiên tòa, bị cáo cũng nhất trí bồi thường như mức người bị hại yêu cầu, nên HĐXX ghi nhận sự thống nhất này và buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại.

[2.6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho anh Ngô Văn T3 số tiền 8.000.000 đ (Tám triệu đồng);

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người bị hại làm đơn yêu cầu khoản tiền nêu trên, nếu người phải thi hành án không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đ (Bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát ND thành phố Vĩnh;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - Công an thành phố Vĩnh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




HỒ PHƯỚC LINH

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về cướp giật tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 263/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thành
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger