|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 263/2024/DS-PT
Ngày: 22 - 11 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Phụng.
Các Thẩm phán: 1. Bà Trương Tố Hương.
2. Ông Nguyễn Văn Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Thanh– Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Diền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số số 220/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 223/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 294/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số H, ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Yến M, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Yến M là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, biên bản hoà giải và tại phiên toà nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị H là chủ hụi bà Nguyễn Thị Yến M là hụi viên có tham gia dây hụi cụ thể như sau:
Dây 1: Hụi mùa (04 tháng khui 01 lần) 5.000.000 đồng, mở vào ngày 20/3/2018 âl, mãn ngày 20/11/2023 âl, có 18 phần, bà M tham gia 01 phần, bà M hốt đầu (ngày 20/3/2018 âl), ra lời 1.900.000 đồng, hốt được 52.700.000 đồng. Sau khi hết hụi xong thì bà M đóng hụi chết cho bà H được 01 lần = 5.000.000 đồng (lần khui thứ 2). Sau đó bà M không đóng hụi chết cho bà H 06 lần ( từ lần thứ 3 là ngày 20/11/2018 cho đến ngày 20/7/2020), bà M không đóng hụi chết cho bà H 16 lần x 5.000.000 đồng=30.000.000 đồng. Bà H phải bỏ tiền ra để đóng hụi chết thay cho bà M 06 lần = 30.000.000 đồng. Đến ngày 20/7/2020 thì bà M tiếp tục đóng hụi chết cho bà H đầy đủ cho đến khi mãn hụi là 10 lần x 5.000.000 đồng = 50.000.000 đồng, nhưng lần khui ngày 20/3/2022 con bà H đến thu tiền hụi chết thì bà M chỉ đưa có 4.500.000 đồng, vì vậy lần khui này bà M còn nợ lại bà H 500.000 đồng. Tổng cộng dây hụi này bà M còn nợ lại bà H 30.500.000 đồng. Vào ngày 30/3/2018 âl (nhằm ngày 19/5/2018 dl) bà Yến M có vay của bà H 45.000.000 đồng, lãi 4%/tháng. Từ ngày vay cho đến nay bà Yến M không có đóng lãi cho bà H.
Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết những vấn đề sau: Buộc bà Nguyễn Thị Yến M trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền hụi còn thiếu là: 30.500.000 đồng; Vốn vay 45.000.000 đồng và lãi theo quy định tạm tính từ ngày 19/5/2018 d1 đến ngày 19/5/2024 là 72 tháng x 45.000.000 đồng x 0,83% =26.920.000 đồng. Tổng cộng: Vốn lãi là 71.920 .000 đồng. Tổng cộng tiền hụi và tiền vay là: 102.420.000 đồng.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Yến M trình bày: Nguyên vào năm 2018, bà Nguyễn Thị Yến M có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi cụ thể như sau:
Dây hụi 1: Hụi mùa 5.000.000 đồng mở ngày 20/03/2018 âm lịch, có 18 phần bà Nguyễn Thị Yến M tham gia 01 phần. Hụi này bà Nguyễn Thị Yến M hốt hụi đầu sau đó bà Nguyễn Thị Yến M có đóng hụi chết cho bà H từ tháng 04/2018 âm lịch cho đến tháng 12/2023 âm lịch là mãn hụi, tổng cộng bà Nguyễn Thị Yến M đã đóng hụi chết được 18 lần, khi bà Nguyễn Thị Yến M đóng hụi trễ lần cuối vào tháng 12/2023 thì bà H còn tính lãi đóng hụi trễ là 300.000 đồng và bà Nguyễn Thị Yến M đã đóng đầy đủ phần hụi này cho bà H. Nên dây hụi này bà Nguyễn Thị Yến M không còn thiếu tiền hụi của bà H, bà H khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị Yến M phải trả tiền hụi 30.500.000 đồng là bà Nguyễn Thị Yến M không đồng ý.
Đối với phần tiền mượn ngày 30/3/2018 thực tế do bà Nguyễn Thị Yến M hốt hụi được số tiền 50.200.000 đồng, còn lại tiền hụi chết là 45.380.000 đồng thì bà Nguyễn Thị Yến M chưa đóng cho bà H. Bà Nguyễn Thị Yến M đồng ý trả số tiền 45.380.000 cho bà H nhưng do thời hạn đã trên 3 năm nên bà Nguyễn Thị Yến M không đồng ý đóng lãi theo yêu cầu khởi kiện của bà H. Nhưng do hiện
tại gia đình khó khăn nên bà Nguyễn Thị Yến M trả dần số nợ trên. Tổng cộng số tiền bà Nguyễn Thị Yến M còn thiếu bà H là: 45.380.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Vì vậy bà Nguyễn Thị Yến M không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà Nguyễn Thị Yến M chỉ thiếu bà H số tiền hụi là 45.380.000 đồng, bà Nguyễn Thị Yến M đồng ý trả số tiền hụi 45.380.000 nêu trên cho bà H và xin được trả dần cho đến khi hết nợ.
* Tại bản án sơ thẩm số 220/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định: Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 229, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Các Điều 16, 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H.
Buộc bị đơn Nguyễn Thị Yến M phải trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị H số tiền nợ hụi và tiền vay là: 102.420.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
* Ngày 17/9/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Yến M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem lại toàn bộ bản án số 220/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách theo hướng công nhận bà còn nợ bà H số tiền 45.380.000 đồng và xin trả dần vì gia đình khó khăn và phải nuôi con nhỏ đi học.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không rút đơn khởi kiện; bị đơn Nguyễn Thị Yến M giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau vê việc giải quyết vụ án.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Yến M và áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn các vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ và căn cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền kháng cáo, nội dung, hình thức đơn và thời hạn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Yến M là đúng theo quy định tại Điều
271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên kháng cáo là hợp lệ và đúng luật định.
Về nội dung vụ án:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Nguyễn Thị Yến M trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền hụi còn thiếu là 30.500.000 đồng, V lãi là 71.920 .000 đồng. Tổng cộng tiền hụi và tiền vay là 102.420.000 đồng. Phía bị đơn bà Nguyễn Thị Yến M đồng ý trả số tiền hụi 45.380.000 nêu trên cho bà H và xin được trả dần cho đến khi hết nợ; không đồng ý trả số tiền hụi cho bà H là 30.500.000 đồng và tiền lãi của số tiền 45.000.000.
[2] Tại bản án sơ thẩm số 220/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định buộc bị đơn là Nguyễn Thị Yến M trả cho bà H số tiền hụi là 30.500.000 đồng; Vốn vay 45.000.000 đồng và lãi theo quy định tạm tính từ ngày 19/5/2018 DL đến ngày 19/5/2024 là 72 tháng x 45.000.000 đồng x 0,83% =26.920.000 đồng. Tổng cộng tiền hụi và tiền vay vốn lãi là 102.420.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm thì bị đơn là Nguyễn Thị Yến M chỉ có kháng cáo phần tiền hụi là 30.500.000 đồng và phần lãi của số tiền vay 45.000.000 đồng là 26.920.000 đồng. Các phần khác của bản án thì các đương sự trong vụ án và Viện kiểm sát hai cấp không kháng nghị thì có hiệu luật pháp luật, cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần kháng cáo của bà M.
[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Yên M1 về việc không đồng ý trả phần tiền hụi là 30.500.000 đồng. Xét thấy:
[3.1] Theo bà H khai: Bà Nguyễn Thị H là chủ hụi, bà Nguyễn Thị Yến M là hụi viên; ngày 20/3/2018 âm lịch thì bà H có mở một dây hụi mùa (04 tháng mở 01 kỳ), hụi 5.000.000 đồng, có 18 phần, dây hụi này bà M tham gia 01 phần. Dây hụi này bà M hốt hụi lẩn đầu (ngày 20/3/2018 AL), ra lời 1.900.000 đồng, hốt được số tiền 52.700.000 đồng và đến ngày 30/3/2018 thì bà H giao đủ số tiền hốt hụi cho bà M, bà M có làm biên nhận cho bà H và trong biên nhận bà M hứa nếu đóng hụi trể phải chịu đóng lãi theo lời hứa. Sau khi hốt hụi thì bà M đóng hụi chết cho bà H được lần 2 (20/7/2018) thì ngưng đóng hụi chết từ lần thứ 3 (ngày 20/11/2018 đến ngày 20/7/2020) là 6 kỳ x 5.000.000 đồng= 30.000.000 đồng, nên bà H phải đóng hụi chết thay cho bà M. Từ ngày 20/7/2020 thì bà M tiếp tục đóng hụi chết đầy đủ và đến lần cuối cùng thì bà M đóng hụi 4.500.000 đồng, còn nợ lại bà H 500.000 đồng. Như vậy, dây hụi này bà M còn nợ lại bà H số tiền là 30.500.000 đồng.
[3.2] Phía bà M thừa nhận là bà có tham gia dây hụi mùa 5.000.000 đồng mở ngày 20/03/2018 âm lịch, có 18 phần, bà M tham gia 01 phần. Hụi này bà M hốt hụi đầu sau đó bà M có đóng hụi chết cho bà H từ tháng 04/2018 âm lịch cho đến tháng 12/2023 âm lịch là mãn hụi, tổng cộng bà M đã đóng hụi chết được 18 lần,
khi bà M đóng hụi trễ lần cuối tháng 12/2023 thì bà H còn tính lãi đóng hụi trễ là 300.000 đồng và bà M đã đóng đầy đủ phần hụi này cho bà H, nên bà H khởi kiện buộc bà M phải trả tiền hụi 30.500.000 đồng thì bà M không đồng ý.
[3.3] Tại phiên tòa, bà M thừa nhận có hốt hụi đầu và có đóng hụi đầy đủ đến lần thứ 02 (hụi chết), thời điểm từ ngày 20-11-2018 đến ngày 20-11-2020 (từ lần thứ 3-8) thì bà vẫn đóng đủ hụi, có lần đóng 01 triệu (bà M không rõ đóng mấy lần) nhưng tại phiên toà bà H cho rằng số tiền này bà M vẫn chưa đóng, mà số tiền 01 triệu đóng vào mùa dịch Covid là trả nợ cho các dây hụi “ngày 10-2, 20-2, 30-2, М2 – 3, rằm – 3 và 20-3” chứ không phải cho dây hụi ngày 20-3-2018.
[3.4] Tại phiên toà, bà M cũng thừa nhận dây hụi 5 triệu phải giao đủ 5 triệu chứ không phải 01 triệu, việc bà giao tiền trong mùa Covid (tháng 12/2019 đến tháng 01/2020) cho bà H là để trả tiền lãi của các chân hụi từ những năm 2014, 2015 và tính đến năm 2019 thì mới trả dứt các chân hụi cũ.
[3.5] Từ những phân tích tại các tiều mục [3.1] đến [3.4] mục [3] thì số tiền mà bà M trả tiền hụi tại tiểu mục [3.3] không phải nhằm để trả cho chân hụi ngày 20-3-2018 và vẫn còn nợ 06 lần hụi (từ lần 3 đến lần 8) và tại tòa bà M cũng không có chứng cứ để chứng minh về việc đóng hụi cho bà H 6 lần. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà H và buộc bà M trả cho bà H số tiền hụi 30.500.000 đồng là có căn cứ, nên kháng cáo của bà M phần này là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Yên M1 về việc không đồng ý trả phần lãi của số tiền vay 45.000.000 đồng là 26.920.000 đồng. Xét thấy:
[4.1] Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Yến M cũng thừa nhận còn nợ bà Nguyễn Thị H số tiền là 45.380.000 đồng (bà H đã bỏ số tiền 380.000 đồng) vẫn còn nợ bà Nguyễn Thị H, lý do nợ số tiền này là do bà có tham gia chơi nhiều chân hụi ngày 10-2, 20-2, 30-2, M2 – 3, rằm – 3 và 20-3 của bà H nhưng do bà hốt hụi nhưng vẫn chưa đóng nên bà H có yêu cầu bà trả tính tổng cộng là 95.580.000 đồng. Khi đến lần tham gia và khui chân hụi ngày 20-3-2018 thì bà xin hốt hụi đầu (lần 1), và tính toán lại thì hốt được số tiền 52.700.000 đồng, trừ đầu thảo là 2.500.000 đồng thì bà còn được 50.200.000 đồng. Do bà vẫn còn nợ tiền hụi của các dây hụi “ngày 10-2, 20-2, 30-2, M2 – 3, rằm – 3 và 20-3” nên bà đồng ý lấy số tổng nợ là 95.580.000 trừ 50.200.000 đồng (hụi hốt ngày 20-3-2018) thì bà vẫn còn nợ bà H 45.380.000 đồng. Do bà H đi vay mượn tiền người khác để đóng thay các chân hụi chết lại cho bà M nên bà M cũng có làm biên nhận nợ vay với số tiền 45.000.000 đồng (bỏ 380.000 đồng) ngày 30-3-2018. Do đó, lời thừa nhận của bà Nguyễn Thị Yến M là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà M trả tiền vốn 45.000.000 đồng là có căn cứ.
[4.2] Đối với phần lãi của số tiền vay 45.000.000 đồng ngày 30-3-2018 là 26.920.000 đồng thì thấy rằng, theo nhận định tại tiểu mục [4.1] mục [4] cấp sơ thẩm buộc bà M trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền vốn 45.000.000 đồng và tính lãi theo quy định từ ngày 19/5/2018 DL đến ngày 19/5/2024 là 72 tháng x 45.000.000 đồng x 0,83% = 26.920.000 đồng, tổng vốn lãi vay là 71.920.000 đồng là có căn cứ, nên kháng cáo của bị đơn phần này là không có căn cứ chấp nhận.
[4.3] Tại tòa bà M đồng ý trả số tiền 45.000.000 đồng nhưng xin trả nhiều thời gian. Xét thấy, yêu cầu trên không được phía nguyên đơn bà H không đồng ý và việc trả liền như thế nào do cơ quan thi hành án sau này quyết định.
[5] Từ những phân tích nêu trên, xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Yến M1 là không có căn cứ chấp nhận, căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm giữ nguyên, nên bị đơn bà M phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326 ngày 31 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Yến M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 220/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 229, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Các Điều 16, 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H. Buộc bị đơn Nguyễn Thị Yến M phải trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị H số tiền nợ hụi và tiền vay là: 102.420.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án (nguyên đơn) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án (bị đơn) còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chưa thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn Nguyễn Thị H không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.560.500 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006097 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn Nguyễn Thị Yến M phải chịu 5.121.000 đồng (Năm triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Yến M phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007361 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách. Như vậy, bà M đã nộp xong án phí phúc thẩm.
- Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Phụng |
Bản án số 263/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
- Số bản án: 263/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bapt Nguyễn Thị H- Yến M
