Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/DS-PT

Ngày 29 - 10 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Các thẩm phán: Ông Trần Bá Kha

Bà Đặng Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bé T1, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Bà Võ Thị M, sinh năm 1970 (có mặt);
  2. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1964 (chết);

Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Lê Văn T2 gồm:

  1. Bà Võ Thị M, sinh năm 1970 (vắng mặt);
  2. Chị Lê Thị Hồng C – sinh năm: 1986 (vắng mặt);
  3. Chị Lê Thị Hồng T3, sinh năm: 1988 (vắng mặt);
  4. Anh Lê Đờ R, sinh năm 1990 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị Hồng C, chị Lê Thị Hồng T3, anh Lê Đờ R: Bà Võ Thị M; địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (theo văn bản ủy quyền đề ngày 19/12/2022) (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hà Thị H, sinh năm 1933; địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị H: Bà Võ Thị Bé T1; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang - theo văn bản ủy quyền đề ngày 24/7/2023 (có mặt).

  1. Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Ông Võ Ngọc T4, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp X, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  3. Bà Võ Thị Đ1, sinh năm 1956; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Bà Võ Út Â, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Bà Võ Thị L, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp L, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  7. Bà Võ Thị V, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bé T5 - Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2022, đơn xin thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 31/01/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm bà Võ Thị Bé T1 trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của mẹ bà tên Hà Thị H chuyển nhượng của bà Lê Thị D vào năm 1981-1987 tổng cộng 03 lần (hiện bà D đã chết 2005) diện tích khoảng 4.945,5m². Đến năm 1992 mẹ bà cho bà diện tích đất có chiều ngang mặt tiền 17,5m, chiều ngang ở sau hậu đất là 29m; chiều dài giáp trường tiểu học L1 61m, giáp đất bà M 72m, có diện tích chung là 1.529,5m², còn lại là cho em bà tên Võ Thị M sử dụng, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Khi cho đất không có làm giấy tờ gì, chỉ thỏa thuận bằng miệng. Bà trồng khoai lang và cất nhà ở, đến năm 2000 con bà chết nên bà phải đi làm thuê, đất để trống. Diện tích đất này thời điểm mẹ bà cho bà chưa đăng ký quyền sử dụng đất. Đến tháng 06/2022 bà về dọn đất để cất nhà ở thì mới phát hiện bà Võ Thị M và

chồng tên Lê Văn T2 chiếm hết và đứng tên quyền sử dụng đất nên hai bên mới phát sinh tranh chấp. Thửa đất hiện nay ông Lê Văn T2 chồng bà M đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 12 diện tích chung 2.660 m², tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang, (hiện ông Lê Văn T2 đã chết). Nay bà yêu cầu Tòa án công nhận cho bà diện tích đất 918m² nằm một phần trong thửa 47, tờ bản đồ số 12 có diện tích chung 2.660m² do ông Lê Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất và diện tích 611,5m² nằm trong thửa 48, tờ bản đồ số 12 do bà Lê Thị D đứng tên quyền sử dụng đất. Tổng diện tích là 1.529,5 m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Buộc bà Võ Thị M và các con của ông Lê Văn T2 có trách nhiệm làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất diện tích trên cho bà theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn bà Võ Thị M trình bày:

Vào năm 1986, vợ chồng bà có chuyển nhượng đất của bà Lê Thị D (cô chồng) diện tích là 2.660m², thỏa thuận chuyển nhượng bằng 02 chỉ vàng 24K, hai bên thỏa thuận miệng không làm giấy tờ. Thời điểm đó gia đình của bà Võ Thị Bé T1 gặp khó khăn về kinh tế, phần đất bà T1 cất nhà bị ngập nước, chồng bà T1 chết nên vợ chồng bà cho bà T1 chôn cất ở một góc vườn. Đến năm 1995 chồng bà tên Lê Văn T2 đi kê khai diện tích đất 2.660m² và được cấp quyền sử dụng đất thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 12. Còn phần đất mẹ bà tên Hà Thị H chuyển nhượng của bà Lê Thị D vào năm 1983, diện tích đất thì bà không biết mà chỉ áng chừng là 01 cái nền nhà và 01 cái bờ, phía giáp lộ thì vợ chồng bà sang thêm của bà D diện tích khoảng 02 liếp đất. Sau đó, bà D có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà giữ bà mới biết phần đất này bà Lê Thị D đang đứng tên quyền sử dụng có diện tích là 3.150m², thuộc thửa 48, tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Khoảng năm 1999, mẹ bà là bà Hà Thị H có chỉ đất cho bà sử dụng ở thửa 48 có chiều ngang 20 m, chiều dài 30m, cho bà Võ Thị Bé T1 chiều ngang 12m, chiều dài 30m. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Thị D giao cho bà thì hiện nay chưa làm thủ tục sang tên (bà đang quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đến ngày 27/11/2022 ông T2 chết. Bà xác định vợ chồng bà không bao chiếm đất của bà T1, mẹ bà chia cho đất đến đâu thì sử dụng đến đó. Việc bà T1 khởi kiện yêu cầu bà tách giấy thửa đất số 47 diện tích 611,5 m² bà không đồng ý vì thuộc quyền sử dụng đất của vợ chồng bà; còn thửa đất số 48 bà H chuyển nhượng của bà Lê Thị D chưa hợp thức hóa quyền sử dụng đất, bà H chia cho bà T1 thì bà T1 có quyền sử dụng, gia đình bà không có ý kiến gì.

*Tại biên bản hòa giải ngày 02/8/2023 và biên bản lấy lời khai bà Hà Thị H trình bày:

Trước đây bà có chuyển nhượng đất của bà Lê Thị D không nhớ rõ năm nào, chuyển nhượng 03 lần không biết diện tích cụ thể là bao nhiêu, có làm giấy

tay sang bán (hiện bà D đã chết) giấy tờ bà cất trong tủ, bà sống chung với người con tên Võ Thị M, không biết ai lấy giấy tờ của bà đã mất hết. Tất cả những phần đất bà chuyển nhượng của bà D chưa làm giấy tờ đứng tên quyền sử dụng đất. Sau đó, bà có chia cho 02 người con tên Võ Thị Bé T1 và Võ Thị M sử dụng, không chia cho con tên Võ Thị C1. Lúc chia đất bà có chỉ ranh cho bà T1 và bà M cắm ranh sử dụng nhưng không đo đạc để biết chính xác diện tích của mỗi người là bao nhiêu. Nay bà T1, bà M tranh chấp đất với nhau bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, bà xác định không khởi kiện đối với bà Võ Thị M trong vụ án này.

*Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2023, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn T2 gồm chị Lê Thị Mộng T6, chị Lê Thị Hồng C và anh Lê Đờ R trình bày:

Việc bà Võ Thị Bé T1 khởi kiện cha mẹ chị là không đúng, mà thửa đất số 47 có diện tích 2.660m² là cha mẹ của các anh chị chuyển nhượng của bà Lê Thị D, sau đó đi kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do cha là ông Lê Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất nên thuộc quyền sử dụng của gia đình các anh, chị. Còn đối với thửa đất số 48 có diện tích theo đo đạc thực tế là 2.235m² trước đây bà ngoại tên Hà Thị H đã chia cho bà T1 chiều ngang 12m, chiều dài 30m, còn lại là của gia đình các anh, chị, phần của ai thì người đó sử dụng. Yêu cầu Tòa án căn cứ vào hồ sơ do các bên cung cấp để giải quyết theo quy định của pháp luật.

*Tại biên bản lấy lời khai những người con bà Lê Thị D gồm: Bà Võ Thị Đ, Bà Võ Thị V, Bà Võ Thị L, Bà Võ Thị H1, Bà Võ Út Â, Bà Võ Thị Đ1 và ông Võ Ngọc T4 trình bày:

Các ông, bà là con của bà Lê Thị D (bà D chết vào năm 2005) các chị em của ông bà đã có gia đình ra ở riêng và nghe mẹ của các ông, bà lúc còn sống nói lại là có chuyển nhượng đất cho bà Hà Thị H và vợ chồng của bà Võ Thị M, ông Lê Văn T2, diện tích chuyển nhượng không rõ cụ thể bao nhiêu, hiện nay mẹ của các ông, bà đã chết, nay các ông, bà không tranh chấp gì đối với phần đất hiện nay chị em bà T1 và bà M đang tranh chấp, Tòa án giải quyết phần đất thuộc về ai thì chị em của các ông, bà sẽ làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Bé T1 đối với bà Võ Thị M và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Lê Văn T2.

Ngoài ra bản án còn quyết định chi phí tố tụng về án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024 nguyên đơn bà Võ Thị Bé T1 có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng như sau:

Sửa Bản án sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M; Công nhận diện tích đất 918,2m², nằm một phần trong thửa đất số 47, tờ bản đồ số 12 do ông Lê Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất và diện tích 611,5m², nằm trong thửa 48, tờ bản đồ số 12 do bà Lê Thị D đứng tên quyền sử dụng đất. Buộc bà Võ Thị M và các con bà M làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn bà Võ Thị Bé T1 giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

- Bị đơn bà Võ Thị M yêu cầu Hội đồng xét xử, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Võ Thị Bé T1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Bé T1 về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Xét thấy diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 1.326,8m² nằm một phần trong thửa đất số 47, tờ bản đồ số 12 do ông Lê Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất và nằm một phần trong thửa đất số 48, tờ bản đồ số 12 do bà Lê Thị D đứng tên quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2.2. Xét về nguồn gốc đất tranh chấp bà Võ Thị Bé T1 và bà Võ Thị M đều xác định là chuyển nhượng của bà Lê Thị D có làm giấy tay nhưng đã bị thất lạc. Theo như lời trình bày của các đương sự về thời điểm chuyển nhượng phần đất tranh chấp không thống nhất với nhau. Bà Võ Thị Bé T1 thì cho rằng mẹ bà là bà Hà Thị H chuyển nhượng tổng cộng 03 lần từ năm 1981 đến năm 1987 diện tích khoảng 4.945,5m². Kể từ khi chuyển nhượng cho đến nay thì bà H chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng, đất vẫn còn đứng tên quyền sử dụng của bà D. Sau đó, bà H chia cho bà và bà M sử dụng, vì bà M chăm sóc cho bà H cho nên bà H chia cho phần nhiều hơn bà. Khi chia thì có chỉ ranh không cặm trụ đá, đất xẻ xuôi, bà có cất nhà cây để ở; nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn bà có đi làm ăn ở xa, nhà đã dỡ bỏ, nay bà có nhu cầu sử dụng phần đất được mẹ bà chia cho thì bà M ngăn cản và chỉ cho bà diện tích ít hơn trước đây bà được bà H chia cho nên phát sinh tranh chấp. Bà T1 yêu cầu công nhận cho bà phần đất đã được mẹ bà chia cho tổng cộng 1.529,5m² nằm trong 02 thửa đất số 47, 48 do bà D đứng tên quyền sử dụng đất và buộc mẹ con bà Võ Thị M phải tách quyền sử dụng phần đất trên cho bà sử dụng. Việc yêu cầu trên của bà T1 không được mẹ con bà Võ Thị M đồng ý, bà M cho rằng thửa số 47 có diện tích 2.660m², vợ chồng bà chuyển nhượng của bà D vào năm 1986 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lê Văn T2 đứng tên thuộc quyền sử dụng của gia đình bà; Còn thửa đất số 48, có diện tích đo thực tế 2.235m² bà H chuyển nhượng của bà D thì chia cho bà T1 ngang 12m, dài 30m, bà T1 không đồng ý cách chia này nên phát sinh tranh chấp, bà M và các con bà không đồng ý theo yêu cầu của bà Võ Thị Bé T1.

[2.3] Xét thấy, phần đất hai bên tranh chấp nằm một phần trong thửa số 47 có diện tích đo đạc thực tế 2.660m² do ông Lê Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30/4/1995 và một phần trong thửa số 48 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 3.450m² do bà Lê Thị D đứng tên quyền sử dụng đất, đất được cấp giấy vào ngày 16/8/2002 (phần đất này trước đây bà D đã chuyển nhượng cho 02 người và đánh biến động) nên diện tích theo đo đạc thực tế hiện nay là 2.235m². Hai thửa đất giáp nhau do trong quá trình sử dụng bà M đã bang ra liền mẫu, hiện không còn bờ mẫu, bà M thống nhất thửa 47 đo đủ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.660m², còn lại là của thửa 48 có diện tích theo đo đạc thực tế 2.235m². Khi hai bên phát sinh tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm có tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thì mỗi người chỉ ranh phần đất được chia không thống nhất với nhau, không phân định được ranh giới sử dụng của mình. Trong biên bản hòa giải ngày 18/01/2023 tại Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, bà Hà Thị H trình bày không xác định được diện tích đất chuyển nhượng của bà D cụ thể là bao nhiêu, sau khi chuyển nhượng xong thì bà có chia cho bà T1, bà M sử dụng nói miệng, không phân định ranh giới rõ ràng, không cặm trụ đá.

Đối với thửa đất số 47 có diện tích theo đo đạc thực tế 2.660m² Ủy ban nhân dân huyện G đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T2 (chồng bà M) đứng tên quyền sử dụng đất vào năm 1995. Tại công văn số 877/UBND-TNMT, ngày 03/11/2023 xác định thửa đất cấp cho hộ ông Lê Văn T2 là đúng trình tự và đúng đối tượng sử dụng (ông T2 đại diện cho hộ đi kê khai, đăng ký) và có xác nhận của chính quyền địa phương đất không có tranh chấp. Thời điểm cấp cho hộ thì trong gia đình ông T2 gồm có: bà Hà Thị H, ông Lê Văn T2, bà Võ Thị M và anh Lê Đờ R có tên trong sổ hộ khẩu gia đình. Như vậy, thửa đất số 47 cấp cho hộ gia đình ông Lê Văn T2 là đúng theo trình tự thủ tục nên việc bà Võ Thị Bé T1 yêu cầu chia một phần nằm trong thửa đất này là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với thửa đất số 48, có diện tích theo đo đạc thực tế 2.235m² hai bên đều xác định chuyển nhượng của bà Lê Thị D, hiện bà Lê Thị D (đã chết) bà D còn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong thửa đất này bà M cho rằng bà Hà Thị H chỉ chuyển nhượng của bà D một cái nền nhà và một cái bờ, phần còn lại vợ chồng bà sang nhượng của bà D. Tuy nhiên, bà M lại không đưa ra được chứng cứ để chứng minh phần đất còn lại của thửa 48 vợ chồng bà sang nhượng của bà D nên xét thấy lời trình bày của bà T1 là bà Hà Thị H chuyển nhượng toàn bộ thửa 48 là có cơ sở. Thời điểm bà Hà Thị H chuyển nhượng thửa đất số 48 cho đến nay giữa các bên chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Các con của bà Lê Thị D đều thừa nhận có biết việc bà Hà Thị H, vợ chồng bà M - ông T2 chuyển nhượng đất của bà D, về diện tích cụ thể bao nhiêu và nằm trong thửa nào thì không biết. Đồng thời, không có yêu cầu hay tranh chấp đối với phần đất đã chuyển nhượng giữa hai bên, Tòa án giải quyết đất thuộc về ai thì họ sẽ thống nhất làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Theo như lời trình bày của bà T1 thì phần đất này chuyển nhượng từ năm 1981 đến năm 1987. Đến năm 2002 bà Lê Thị D mới đi kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kể từ thời điểm chuyển nhượng đất cho đến khi bà D được cấp giấy thì bà Hà Thị H có đủ điều kiện để làm thủ tục chuyển quyền nhưng bà H không làm. Bên phía bà D giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà M quản lý từ đó cho đến nay. Lẽ ra, bà H phải làm thủ tục chuyển quyền xong thì làm thủ tục tặng cho bà T1, bà M theo quy định của pháp luật; nhưng bà H chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và cùng với bà M sử dụng phần đất từ khi chuyển nhượng của bà D cho đến nay, bà H có chỉ đất cho bà T1, bà M sử dụng nhưng không cụ thể, rõ ràng mỗi người được sử dụng diện tích là bao nhiêu, dẫn đến bà T1 và bà M phát sinh tranh chấp với nhau. Bà Võ Thị Bé T1 xác định bà được mẹ là bà Hà Thị H tặng cho diện tích đất 1.529,5m² nằm trong tổng diện tích 4.945,5m² chuyển nhượng của bà D, bà T1 cho rằng tổng diện tích đất trên của bà D chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất; nhưng trên thực tế thì phần đất tranh chấp hiện nằm một phần trong thửa số 47 đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy cho ông Lê Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất; một phần của thửa số 48 cấp cho bà Lê Thị D đứng tên quyền sử dụng đất. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà T1 không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc bà được bà H tặng cho đất, hiện nay phần đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 48, bà Lê Thị D còn đứng tên quyền sử dụng đất, chứ không phải là bà M nên việc bà T1 yêu cầu buộc bà M và các con bà M tách quyền sử dụng đất ở thửa 48 là không có cơ sở.

Theo đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Bé T1 về việc bà T1 yêu cầu công nhận diện tích 1.529,5m² (theo đo đạc thực tế 1.326,8m²) nằm trong hai thửa đất số 47, 48 và buộc bà M và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Lê Văn T2 tách quyền sử dụng diện tích đất trên cho bà là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Bé T1. Tại cấp phúc thẩm bà Bé T1 không có cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh là việc kháng cáo của bà là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Bé T1 như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.

Từ những nhận định nêu trên nên trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Võ Thị Bé T1; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của bà Võ Thị Bé T1 không được chấp nhận nên phải chịu cụ thể như sau:

[4.1] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền là 2.684.660 đồng, bà Võ Thị Bé T1 đã nộp đủ theo hóa đơn điện tử số 1395 ngày 12/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Kiên Giang.

[4.2] Phí thẩm định giá tài sản tranh chấp: Số tiền là 5.500.000 đồng, Bà Võ Thị Bé T1 đã nộp đủ tại hóa đơn số 339 ngày 18/3/2024 của Công ty cổ phần T7.

[5] Về án phí:

[5.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của Võ Thị Bé T1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên, bà Bé T1 thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà Bé T1 được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định.

[5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Kháng cáo của bà Võ Thị Bé T1 không được chấp nhận, nên bà Bé T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Tuy

nhiên, bà Bé T1 thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà Bé T1 được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Võ Thị Bé T1;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng khoản 5 Điều 166, Điều 170 của Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Bé T1 đối với bị đơn bà Võ Thị M và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Lê Văn T2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với diện tích đất 1.529,5m² Theo đo đạc thực tế là 1.326,8m²) nằm trong thửa số 47 và 48, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của bà Võ Thị Bé T1 không được chấp nhận nên phải chịu cụ thể như sau:

2.1. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền là 2.684.660 đồng (hai triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi đồng), bà Võ Thị Bé T1 đã nộp đủ theo hóa đơn điện tử số 1395 ngày 12/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2.2. Phí thẩm định giá tài sản tranh chấp: Số tiền là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng), Bà Võ Thị Bé T1 đã nộp đủ theo hóa đơn số 339 ngày 18/3/2024 của Công ty cổ phần T7.

3. Về án phí: Bà Võ Thị Bé T1 thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên bà Bé T1 được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Giồng Riềng;
  • - THA dân sự huyện Giồng Riềng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nguyễn Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/DS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 263/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ba T tranh chấp quyền sử dụng đất với bà M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger