Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán và

thực hiện nghĩa vụ tài sản do người

chết để lại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan
  2. Bà Lý Thị Mỹ Diệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Triệu Thị L, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Đỗ Thị M, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ D, Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15/5/2024), vắng mặt.

  2. Bị đơn:

    • - Bà Ngô Kim G, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    • - Ông Lê Văn B, sinh năm 1942; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    • - Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1944; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    • - Anh Lê Điền T, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    • - Anh Lê Điền L1, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2024 và đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 03/7/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Đỗ Thị M trình bày:

Bà Triệu Thị L làm đại lý phân bón. Vợ chồng bà Ngô Kim G và ông Lê Văn T1 có mua phân bón và thuốc trừ sâu của bà L từ trước năm 2021. Đến ngày 12/3/2021 (ÂL) nhầm ngày 23/4/2021 (DL) giữa và L và bà G chốt nợ với nhau, vợ chồng bà G còn nợ số tiền tổng cộng là 584.230.000 đồng, bà G có ký tên vào sổ nợ. Sau khi chốt nợ, vợ chồng bà G hứa hẹn trả nhiều lần nhưng không trả cho đến nay.

Bà L xác định đây là nợ chung của vợ chồng bà G. Do ông T1 đã chết nên yêu cầu bà G cùng hàng thừa kế của ông T1 gồm có: cha mẹ ông T1 là ông Lê Văn B và bà Huỳnh Thị H; bà Ngô Kim G, hai người con của ông T1 và bà G là anh Lê Điền T, anh Lê Điền L1 cùng có trách nhiệm trả cho bà L số tiền nợ gốc là 584.230.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 0.83%/tháng từ ngày 23/4/2021 (ngày chốt nợ) đến khi giải quyết xong vụ án. Do hoàn cảnh của bà G đang khó khăn nên bà L đồng ý giảm tiền lãi cho bà G, chỉ yêu cầu số tiền lãi là 100.000.000 đồng.

Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Ngô Kim G trình bày:

Việc mua phân bón là do chồng bà là ông Lê Văn T1 mua. Nay bà xác định nội dung khởi kiện của bà Triệu Thị L là đúng, bà cũng đồng ý đây là nợ chung của vợ chồng, đồng ý cùng hàng thừa kế của ông T1 trả số tiền nợ gốc là 584.230.000 đồng. Tuy nhiên, bà xin phần tiền lãi vì hiện tại hoàn cảnh gia đình của bà rất khó khăn. Nếu không được thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, bà không có ý kiến.

Ông T1 mất năm 2023, bà và ông T1 có 02 người con là Lê Điền T, sinh năm 2000 và Lê Điền L1, sinh năm 2001. Ngoài ra ông T1 không có con nuôi hay con riêng. Ông Lê Văn B và bà Huỳnh Thị H là cha mẹ ruột của ông T1.

Ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T, anh Lê Điền L1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến trình bày.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố dụng dân sự 2015.
  • - Về nội dung: căn cứ Điều 357, 430, 440, 615, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Buộc bà Ngô Kim G có nghĩa vụ trả cho bà Triệu Thị L ½ của số tiền nợ gốc 584.230.000 đồng là 292.115.000 đồng và ½ của số tiền lãi 100.000.000 đồng là 50.000.000 đồng. Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn T1 là bà Ngô Kim G, ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T và anh Lê Điền L1 cùng có nghĩa vụ trả cho bà Triệu Thị L ½ của số tiền nợ gốc 584.230.000 đồng là 292.115.000 đồng và ½ của số tiền lãi 100.000.000 đồng là 50.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông Lê Văn T1 để lại.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: bà Đỗ Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bà Ngô Kim G, ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T, anh Lê Điền L1 đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng không đến Tòa án. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: theo đơn khởi kiện, bà L yêu cầu bà Ngô Kim G và ông Lê Văn T1 trả tiền mua bán phân bón nên Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. Quá trình giải quyết vụ án biết được ông Lê Văn T1 đã chết ngày 29/6/2023 (trước thời điểm thụ lý) nên bà L làm đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, căn cứ yêu cầu của bà L Tòa án xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: xét yêu cầu khởi kiện của bà L nhận thấy:

[3] Bà Triệu Thị L khởi kiện cung cấp 01 sổ ghi nợ có chốt số tiền nợ gốc là 584.230.000 đồng, phía dưới có chữ ký và ghi họ tên của bà G. Bà G thừa nhận có nợ số tiền trên, xác định đây là khoản nợ khi ông T1 còn sống đã mua phân bón nên là nợ chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L đối với số tiền nợ gốc 584.230.000 đồng.

[4] Về tiền lãi: bà L yêu cầu tiền lãi từ ngày chốt nợ (ngày 23/4/2021) đến khi giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định tại các Điều 357, Điều 440 Bộ luật dân sự 2015, tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ được tính trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là: 584.230.000 đồng x 0,83%/tháng x 41 tháng = 198.813.000 đồng. Tuy nhiên, bà L giảm tiền lãi, chỉ yêu cầu trả lãi số tiền 100.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên ghi nhận.

[5] Theo quy định tại khoản 2, 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T và anh Lê Điền L1 nếu có phản đối yêu cầu của người khác đối với mình thì phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. Tuy nhiên, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử các đương sự trên không đến Tòa án, không thể hiện ý kiến nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ.

[6] Về xác định trách nhiệm trả nợ:

[6.1] Xét thấy bà Ngô Kim G và ông Lê Văn T1 là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào năm 1999 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, khoản nợ được bà G xác định là nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 buộc bà G phải có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ, cụ thể là 292.115.000 đồng tiền gốc và 50.000.000 đồng tiền lãi.

[6.2] Đối với ½ số tiền nợ gốc lãi còn lại: ông Lê Văn T1 mất năm 2023 nên bà L yêu cầu những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông T1 trả nợ. Xác định hàng thứa kế thứ nhất của ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự gồm có: bà Ngô Kim G (vợ), ông Lê Văn B (cha), bà Huỳnh Thị H (mẹ), anh Lê Điền T (con), anh Lê Điền L1 (con). Như vậy, bà Ngô Kim G, ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T và anh Lê Điền L1 phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông T1 để lại là trả cho bà Triệu Thị L số tiền nợ gốc 292.115.000 đồng và 50.000.000 đồng tiền lãi trong phạm vi di sản thừa kế do ông T1 để lại theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Bà Triệu Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.176.000 đồng theo biên lai thu số 0006266 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Bà Ngô Kim G phải chịu 17.105.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, bà Ngô Kim G, anh Lê Điền T, anh Lê Điền L1 phải chịu 17.105.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, trong phạm vi di sản thừa kế của ông Lê Văn T1 để lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, 4 Điều 91, Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 288, 357, 430, 440, 615, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng mua bán và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” của bà Triệu Thị L đối với bà Ngô Kim G, ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T và anh Lê Điền L1.

    Buộc bà Ngô Kim G có nghĩa vụ trả cho bà Triệu Thị L số tiền tổng cộng là 342.115.000 đồng (ba trăm bốn mươi hai triệu một trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 292.115.000 đồng, tiền lãi là 50.000.000 đồng.

    Buộc bà Ngô Kim G, ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, anh Lê Điền T và anh Lê Điền L1 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản là trả cho bà Triệu Thị L số tiền tổng cộng là 342.115.000 đồng (ba trăm bốn mươi hai triệu một trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 292.115.000 đồng, tiền lãi là 50.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông Lê Văn T1 để lại.

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí:

    Bà Triệu Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.176.000 đồng (mười bảy triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006266 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tây Ninh.

    Bà Ngô Kim G phải chịu 17.105.500 đồng (mười bảy triệu một trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Lê Văn B, bà Huỳnh Thị H, bà Ngô Kim G, anh Lê Điền T, anh Lê Điền L1 phải chịu 17.105.500 đồng (mười bảy triệu một trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, trong phạm vi di sản thừa kế của ông Lê Văn T1 để lại.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - VKSND h Tân Châu;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 263/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger