Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/HSST

Ngày 18/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn C
    • Ông Vương Đình Q – Giáo viên
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy T – Cán bộ Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa:

Ông Lê Hoàng Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 224/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/QĐ-HPT ngày 17/9/2024, đối với bị cáo:

Hồ Bảo N, sinh ngày 08/11/2007; Bị cáo phạm tội 16 tuổi 01 tháng 25 ngày;

Hộ khẩu thường trú: Khu D, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Con ông: Hồ Ngọc H, sinh năm 1983 và bà Bùi Thị L, sinh năm: 1988; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

Giám hộ của bị cáo: Ông Hồ Ngọc H, sinh năm 1983, bố đẻ bị cáo;

HKTT: Khu D, xã Đ, H, Phú Thọ.

- Ông Nguyễn Quang Á – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý TP Hà Nội. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo N.

Bị hại: Anh Bàn Tiến T, sinh năm 2001;

HKTT: Xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 12/2023, Hồ Bảo N đến học việc tại cửa hàng sửa máy An Phát M của anh Nguyễn Hữu A (Sinh năm: 1990; HKTT: Tổng Phan, P, Hưng Yên) tại địa chỉ: Khu L, C14 B, TDP A, phường T, quận N, Hà Nội. Hàng ngày, N cùng với anh Bàn Tiến T (Sinh năm: 2001; HKTT: V, V, Yên Bái) và anh Lê Ngọc L1 (Sinh năm: 1981; HKTT: C, N, Thanh Hóa) làm việc và ngủ lại để trông giữ cửa hàng. Quá trình sinh hoạt, N biết anh T để chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh – đen – bạc, gắn BKS: 21E1 - 462.75 tại cửa hàng vào buổi tối, chìa khóa xe máy và ví tiền để trên mặt bàn quầy thu ngân. Do không có tiền tiêu sài nên N đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy của anh T.

Tối ngày 27/12/2023, N và anh L1 lên gác xép tầng 1 tại cửa hàng ngủ, còn anh T ngủ tại tầng 1 của cửa hàng. Đến khoảng 05 giờ ngày 28/12/2023, N ngủ dậy và đi xuống tầng 1 để đi vệ sinh thì thấy anh T đã ngủ say thì nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của anh T nên N đi lên gác xép lấy đồ dùng cá nhân của N cất vào balo và đi xuống tầng 1 lấy chìa khóa xe máy và ví tiền của anh T để trên mặt bàn quầy thu ngân. N mở ví tiền anh T ra lấy 900.000 đồng ở trong ví và lấy chiếc chìa khóa xe máy của anh T mở khóa xe, sau đó mở cửa dắt xe máy ra và điều khiển xe máy bỏ trốn. Quá trình bỏ trốn, trong lúc đổ xăng, N phát hiện giấy đăng ký xe máy của anh T để ở trong cốp xe máy nên ngày 31/12/2023, N đã bán chiếc xe máy trên cho một cửa hàng sửa chữa xe máy tại địa phận tỉnh Hà Nam (N không nhớ địa chỉ cụ thể) với giá 3.000.000 đồng. Số tiền bán chiếc xe máy, N đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 31/3/2024, sau khi nhiều lần không liên lạc được với N, anh Bàn Tiến T đã đến Cơ quan Công trình báo sự việc.

Quá trình điều tra xác minh, Cơ quan điều tra đã triệu tập Hồ Bảo N đến làm việc. Ngày 13/4/2024, Hồ Bảo N đã đến Công an phường T và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, Hồ Bảo N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của Hồ Bảo N phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp các tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

* Vật chứng thu giữ: 01 USB có dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh – đen – bạc, BKS: 21E1 - 462.75, số khung: RLHJA3912LY099666, số máy: JA39E1437285 trị giá 12.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Hồ Bảo N trộm cắp của anh Bàn Tiến T là 12.900.000 đồng.

Đối với cửa hàng nơi N bán chiếc xe máy trên, N không nhớ địa điểm bán nên Cơ quan điều tra không xác định được nơi bán xe và không thu hồi được vật chứng

Về dân sự: Ngày 15/5/2024, Hồ Bảo N đã tự nguyện bồi thường cho anh Bàn Tiến T số tiền 13.000.000 đồng, anh T không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Tại bản cáo trạng số 215/CT-VKS ngày 26/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Hồ Bảo N về tội “Trộm cắp tài sản", theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Bảo N từ 06 đến 09 tháng, nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng tù.

Về dân sự: Bị hại không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Không

Giám hộ của bị cáo trình bày:

Về tội danh và hành vi phạm tội của cháu, tôi không có ý kiến gì, gia đình nhận thấy có một phần trách nhiệm, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho cháu.

Trợ giúp pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo trình bày:

Đồng ý với tội danh và điều luật mà Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo khi phạm tôi là chưa thành niên, nên đề nghị HĐXX căn cứ quy định của pháp luật cho bị cáo hình phạt nhẹ nhất để có điều kiện cải tạo sữa chữa.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận:

    Khoảng 05 giờ ngày 28/12/2023, tại cửa hàng S địa chỉ: Khu L, C14 B, TDP A, phường T, quận N, Hà Nội, Bị cáo lợi dụng lúc anh T ngủ say, đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh – đen – bạc, BKS: 21E1 - 462.75 trị giá 12.000.000 đồng và số tiền 900.000 đồng của anh T để tại cửa hàng sau đó bỏ trốn. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp của anh T là 12.900.000 đồng.

  3. [3] Hành vi của bị cáo Hồ Bảo N đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
  4. [4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, khi phạm tội bị cáo chưa thành niên cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu; thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại đầy đủ, nhân nhân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 01 tháng 25 ngày nên áp dụng điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

    Với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng đối với bị cáo N đây là lần đầu tiên bị đưa ra truy tố và xét xử, có nhân thân tốt ngoài lần phạm tội này bị cáo N luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ trừng trị giáo dục phòng ngừa chung, có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nhưng cũng cần phải có mức án thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

  5. [5] Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường đầy đủ, không có ý kiến gì nên HĐXX không xét.
  6. [6] Về vật chứng: Không

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ theo khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điều 65; điều 90; điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Bảo N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Hồ Bảo N 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo được hưởng án treo về UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về dân sự: Không
  • - Về vật chứng: Không
  • - Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về thứcmiễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THA dân sự q. Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Mai Thị H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HSST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 263/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Bảo N phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger