Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 263/2024/HS-ST

Ngày: 10-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do– Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lập Tiến

2. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Châu Phước Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an thành phố B, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 243/2024/TLST–HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2024/QĐXXST–HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an thành phố B

Họ và tên: Phạm Văn T

Sinh ngày 27 tháng 6 năm 2003; Tại: huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (nay là huyện Đ, tỉnh Đắk Nông); Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T1 và con bà Nguyễn Thị B. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 01/6/2024, hiện đang giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B, hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

Tại điểm cầu trung tâm – Trụ sở TAND thành phố Buôn Ma Thuột:

*Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan: Bà Nguyễn Thị Minh H

Địa chỉ: D N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá (hay còn gọi là Methamphetamine). Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01 tháng 6 năm 2024, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng gắn sim số 0353.350.303 đăng nhập tài khoản zalo có tên “RIP” liên lạc tài khoản zalo “Cheally” của người nam giới không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý bán hẹn T đến trước số nhà A N, phường T, thành phố B. T một mình đi xe thồ đến điểm hẹn đưa cho người nam giới số tiền 300.000 đồng, người này bán cho T một gói nylon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T cất ma túy đá vào túi xách bằng da màu đen rồi nhờ người này chở T đến nhà nghỉ H1 ở địa chỉ D N, phường T, thành phố B. Đến nơi, người này đi còn T vào thuê phòng 105. Khi T đang mở cửa phòng thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố B bắt quả tang, niêm phong gói ma túy theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 805/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2893 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2576 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại bản cáo trạng số: 255/CT-VKS ngày 12/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • + Tịch thu tiêu hủy 0,2576 gam Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 805/KL–KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng gắn sim số 0353.350.303 và một túi xách bằng da màu đen có in chữ H & N của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01 tháng 6 năm 2024 tại nhà nghỉ H1 ở địa chỉ D N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk tổ công tác Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T có hành vi tàng trữ 0,2893 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng.

Tại các biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho việc nghiện hút của bản thân.

Do đó hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

  • Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện, hành vi tự ý tàng trữ chất ma túy đã xâm phạm đến việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Song do bị cáo là người nghiện ma túy và để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Phạm Văn T theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, cần buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bản thân bị cáo hiện nay đang mắc bệnh HIV, căn bệnh hiểm nghèo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của nhà nước ta.

[2.3] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Văn T.

Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.

Đối với nguồn ma túy, bị cáo T khai nhận mua của người nam giới sử dụng tài khoản zalo “Cheally” không rõ nhân thân lai lịch và người chạy xe thồ không rõ đặc điểm biển số xe chở bị cáo đi mua ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác minh được nhân thân lai lịch của các đối tượng trên nên tách hành vi của các đối tượng ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Đối với bà Nguyễn Thị Minh H trú tại D N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là chủ nhà nghỉ H1 không biết bị cáo T thuê phòng sử dụng ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[2.4] Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy 0,2576 gam Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 805/KL–KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng gắn sim số 0353.350.303 và một túi xách bằng da màu đen có in chữ H & N của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

[2.5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 09(chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt (ngày 01/6/2024).

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy 0,2576 gam Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 805/KL–KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng gắn sim số 0353.350.303 và một túi xách bằng da màu đen có in chữ H & N của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 - TAND TC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND Tp. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an Tp. Buôn Ma Thuột;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột;
  • – Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 263/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger