Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CM

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024.

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thanh Liêm và ông Trịnh Văn Bé.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trần Long, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 524/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 513/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 439/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị G, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp AL, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số 0532, tổ 28, ấp TTA, xã TA, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trần Quan T, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp AL, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Phạm Thị G trình bày: Bà và ông Trần Quan T cưới nhau vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ATT, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Sau khi cưới bà về quê ông T tại xã ATT sinh sống đến năm 2023 thì bà với ông T phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chồng nghe lời cha mẹ ruột kiếm chuyện chửi bà, đồng thời ông T không quan tâm chăm sóc vợ con nên bà về nhà cha mẹ ruột sống và đã ly thân khoảng hơn 01 năm không tới lui thăm nhau. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Quan T; về con chung: có 01 con chung tên Trần TN, sinh ngày 03/6/2019 hiện đang sống với bà G, bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung; không có; về nợ chung; không có.

Bị đơn Ông Trần Quan T đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà G.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Đối với nguyên đơn: Bà Phạm Thị G, từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định, tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Ông Trần Quan T, từ khi thụ lý vụ vắng mặt đã không thực hiện đúng quy định tài các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị G đối với ông Trần Quan T.

Về con chung: Bà Phạm Thị G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần TN, sinh ngày 03/6/2019, ông Trần Quan T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

  1. Bà Phạm Thị G khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Quan T. Ông T có nơi cư trú tại ấp AL, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Nguyên đơn bà Phạm Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Quan T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung:

  1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị G và ông Trần Quan T xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2013 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà G trình bày, sau khi cưới bà về quê chồng tại xã An Thạnh Trung sinh sống đến năm 2023 thì bà và ông T phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chồng nghe lời cha mẹ ruột kiếm chuyện chửi bà, không quan tâm chăm sóc vợ con nên hai người đã sống ly thân khoảng hơn 01 năm không tới lui thăm nhau. Bà xác định tình cảm không thể tồn tại và hàn gắn được; cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Quan T. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Trần Quan T đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà G khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà G, cũng như tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân vợ chồng không tới lui thăm nhau để hàn gắn tình cảm, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Mặc khác, bà G xác định không còn tình cảm với chồng nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị G là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  2. Về con chung: Bà Phạm Thị G xác định bà và ông Trần Quan T có 01 con chung tên Trần TN, sinh ngày 03/6/2019 hiện đang sống với bà G. Bà G yêu cầu được tiếp tục con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay G là người trực tiếp nuôi con nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với bà G, cháu Nhân vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần đồng thời cháu Nhân được bà G tại điều kiện cho đi học. Do đó, cần để bà G tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

    Do bà Phạm Thị G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

  3. Về tài sản chung: do bà Phạm Thị G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết.

  4. Về nợ chung: ghi nhận bà Phạm Thị G xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết.

  5. Về án phí: bà Phạm Thị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị G đối với ông Trần Quan T.

Về hôn nhân: Cho bà Phạm Thị G được ly hôn với ông Trần Quan T. Giấy chứng nhận kết hôn số 29, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 14 tháng 03 năm 2013 cho bà Phạm Thị G và ông Trần Quan T không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Bà Phạm Thị G được tiếp tục nuôi con chung Trần TN, sinh ngày 03/6/2019, ông Trần Quan T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Phạm Thị G cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Quan T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Phạm Thị G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai thu số 0015756 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 09 tháng 7 năm 2024. Bà G đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh An Giang;
  • -VKSND H. Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • -UBND thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 263/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Phạm Thị G trình bày: Bà và ông Trần Quan T cưới nhau vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ATT, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Sau khi cưới bà về quê ông T tại xã ATT sinh sống đến năm 2023 thì bà với ông T phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chồng nghe lời cha mẹ ruột kiếm chuyện chửi bà, đồng thời ông T không quan tâm chăm sóc vợ con nên bà về nhà cha mẹ ruột sống và đã ly thân khoảng hơn 01 năm không tới lui thăm nhau. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Quan T; về con chung: có 01 con chung tên Trần TN, sinh ngày 03/6/2019 hiện đang sống với bà G, bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung; không có; về nợ chung; không có.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger