trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 263/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04 – 7 – 2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Hùng;

2. Bà Dương Thị Thúy Duy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 314/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 257/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: Số H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ H, ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Hồ Thị T vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn C vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Hồ Thị T; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Nguyễn Văn C tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 10/4/2012. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Bà T và ông C đã sống ly thân khoảng 03 năm nay. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên: Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 28/01/2015. Con chung hiện đang chung sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy hai con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Nguyễn Văn C để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 27/5/2024 nhưng ông C vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông C, ông C cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Ngày 27/5/2024, bà T có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận đi làm ăn xa.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Hồ Thị T giao nộp: Trích lục kết hôn số 815/TLKH-BS ngày 19/6/2023 (bản sao); Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 28/01/2015 (bản sao); Bản sao Căn cước công dân mang tên Hồ Thị T.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Công an xã Q, huyện A ngày 29/5/2024; bản chính Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ngày 29/5/2024; bản chính bản tự khai người làm chứng mang tên Hồ Thị L kèm căn cước công dân; biên bản xác minh tại B ấp Q, xã Q, huyện A.

Tại phiên tòa, do bà T và ông C đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo Biên bản xác minh ngày 29/5/2024, đại diện Công an xã Q cho biết: Ông Nguyễn Văn C, sinh ngày 14/01/1984 có nơi thường trú tại: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang. Ông C hiện đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về địa phương.

Theo Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an xã Q ngày 29/5/2024: Ông Nguyễn Văn C có nơi thường trú tại: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Nhà trọ Nguyễn Thị Kim A, số B, đường số A, khu E, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông C có vợ tên Hồ Thị T.

Theo bản tự khai ngày 28/5/2024, bà Hồ Thị L cho biết: Bà L là chị ruột của bà T. Bà L trình bày thống nhất với bà T về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, về con chung. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông C thường xuyên cờ bạc, gia đình nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông C không thay đổi. Bà L cũng đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng cả hai cũng không thể hàn gắn. Bà T và ông C đã sống ly thân nhau khoảng 03 năm nay. Do bận công việc làm ăn nên bà L yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập.

Theo biên bản xác minh ngày 04/6/2024, đại diện Ban ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang cho biết: Bà Hồ Thị T và ông Nguyễn Văn C sau khi kết hôn thì sinh sống tại địa phương, sau đó cả hai đi làm tại Bình Dương, chỉ trở về địa phương vào các dịp lễ, Tết. Vài năm gần đây thì bà T và ông C không còn chung sống cùng nhau, không rõ nguyên nhân mâu thuẫn của cả hai nhưng được biết hiện nay ông C đang chung sống với người phụ nữ khác.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị T; về con chung, đề nghị giao con chung tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 28/01/2015 cho bà T được nuôi dưỡng và ông C không phải cấp dưỡng nuôi con; bà T khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, ông C không phải chịu án phí.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Nguyễn Văn C đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời ông C đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy ông C đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia

tố tụng của mình. Nguyên đơn bà Hồ Thị T có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Văn C có nơi thường trú tại: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Nguyễn Văn C tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q, huyện A, tỉnh An Giang, Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 10/4/2012 (theo bản sao Trích lục kết hôn số 815/TLKH-BS ngày 19/6/2023). Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Bà T và ông C đã sống ly thân khoảng 03 năm nay, không hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù gia đình đã động viên, hòa giải. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông C có 02 con chung tên: Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 28/01/2015. Con chung hiện đang chung sống với bà T.

Sau khi xem xét yêu cầu của bà T, nguyện vọng của con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để bà T được tiếp tục nuôi dạy con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà T về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà T vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà T trong việc không yêu cầu ông C cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm

nom con của người đó.

Ông Nguyễn Văn C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Hồ Thị T. Ngược lại, bà T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này ông C có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Hồ Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà T và ông C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Bà Hồ Thị T được trực tiếp nuôi dạy 02 con chung tên: Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 28/01/2015. Ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Ông Nguyễn Văn C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Hồ Thị T. Ngược lại, bà T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009420 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Hồ Thị T và ông Nguyễn Văn C. Bà T và ông C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Quốc Thái,
  • huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 263/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Tiền và ông Nguyễn Văn Chục tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 10/4/2012. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Bà Tiền và ông Chục đã sống ly thân khoảng 03 năm nay. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Tiền yêu cầu được ly hôn với ông Chục. Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên: Nguyễn Thị Yến Nhi, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Phú Quí, sinh ngày 28/01/2015. Con chung hiện đang chung sống với bà Tiền. Bà Tiền yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy hai con chung, không yêu cầu ông Chục cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger