Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhơn

Bà Hồ Thị Lang

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoãn Đình Khánh - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 298/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Trương Hoàng P

    (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/9/1987; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh ĐN; Nơi ĐKHKTT: Ấp S, xã BC, huyện LT, tỉnh ĐN; Chỗ ở: Số X lô G, Cư xá T, Phường Y, quận BT, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không ; Họ tên cha: Trương Đình T; Họ tên mẹ: Hồ Mỹ D; Gia đình bị cáo có bốn anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Họ tên vợ: Nguyễn Thanh Th; Họ tên con: Nguyễn Hoàng L; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến nay;
  2. Họ và tên: Ngô Đức P

    (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 17/6/1985; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: Nhà số Q Lô L, Cư xá T, Phường Y, quận BT, Thành phố H; Chỗ ở: Nhà số Q Lô L, Cư xá T, Phường Y, quận BT, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không có; Họ tên cha: Ngô Đức K; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Minh S; Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Họ tên vợ: Võ Thị Kim A; Họ tên con: Ngô Thị Kim T, sinh năm 2004 và Ngô Đức T1, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay;
  3. Trần Văn Th

    (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/02/1976; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: Nhà số X đường BĐ, Phường M, quận BT, Thành phố H; Chỗ ở: Nhà không số tại J Lô L, Cư xá T, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Thợ hàn; Họ tên cha: Trần Văn H; Họ tên mẹ: Ngô Thị T; Gia đình bị cáo có bảy anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;

    Nhân thân: Năm 1997, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử 03 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 721/HSST ngày 08/05/1977. Đã chấp hành hình phạt tù tại trại giam Chí Hòa, đến ngày 24/02/1988, Trại giam Chí Hòa đã chuyển Th đến chấp hành án tại Trại giam Cái Tàu, tỉnh Cà Mau.

    Năm 2002, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 1313/QĐUB ngày 17/10/2002 đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng. Ngày 12/9/2004, chấp hành xong quyết định trên.

    Năm 2011, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 234/HSST ngày 30/9/2011. Đã đóng án phí. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/03/2013 theo quyết định số 302 ngày 06/03/2013.

    Tiền án: Không có

    Tiền sự: Năm 2021, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 263/2021/QĐ-TA ngày 12/7/2021. Chấp hành xong quyết định trên ngày 19/7/2022. Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay.

Những người tham gia tố tụng: Không có

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 24/02/2023, Trương Hoàng P đang ở nhà thì nhận được điện thoại của người bạn tên SC rủ ra uống bia. P một mình điều khiển xe mô tô Honda Vario BKS: 59S3-406.05 đến bờ kè lô L đối diện nhà số TC/TS đường BQ, Phường M, quận BT, Thành phố H để uống bia. Lúc này P nhìn thấy cách chỗ ngồi nhậu khoảng 2 mét, có 01 người đàn ông khoảng 35 tuổi không rõ lai lịch trải một chiếc chiếu và để ra 5 bộ bài và nói “ai muốn làm cái thì làm”, xung quanh có Ngô Đức P, Trần Văn Th, 01 người đàn ông và 01 phụ nữ chuẩn bị chơi đánh bài. Thấy vậy P đi sang rủ những người này đánh bài cào ăn tiền và xin để được làm cái 5 ván bài. P mang theo trong người 2.100.000 đồng và xác định dùng hết số tiền này để đánh bạc nên cầm sẵn trên tay số tiền này.

Hình thức đánh bạc là đánh bài cào ăn thua bằng tiền mặt. Dùng bài tây 52 lá chia mỗi tụ là 03 lá bài, sau đó sẽ đếm điểm tổng cộng của 03 lá bài đã được chia và lấy số của hàng đơn vị làm điểm của ván bài, điểm được tính từ 0 điểm đến 9 điểm. Các lá bài tây được tính là 10 điểm, nếu tụ nào có 3 lá bài tây được gọi là “ba cào” được tính là số điểm lớn nhất. Các nhà con sẽ so sánh điểm với nhà cái, nếu nhà con lớn điểm hơn điểm nhà cái thì nhà cái phải chung số tiền mà nhà con đã đặt cược theo tỷ lệ 1:1 và ngược lại. P quy định các tay con chỉ được đặt tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng trên 1 ván, ăn thua trực tiếp với nhà cái, các tay con không được đá riêng với nhau, không có hình thức cào “dùa” nghĩa là bất cứ nhà nào nếu có số điểm cao nhất thì thắng và ăn hết số tiền tất cả các nhà đã đặt cược.

P làm cái được 04 ván bài, khi thấy tay con nào đặt tiền cược, thì mới chia bài cho người đó. Sau 4 ván bài P đã ăn được số tiền 2.600.000 đồng. Đến khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 25/02/2024, khi đang chờ các tay con đặt tiền cược cho ván thứ 5, thì bị Công an quận Bình Thạnh phát hiện bắt quả tang P cùng Ngô Đức P và Trần Văn Th có hành vi đánh bài ăn tiền, còn 02 người đàn ông đã nhảy xuống sông bỏ trốn và 01 người phụ nữ có tham gia đánh bạc đã lợi dụng lúc hỗn loạn trốn thoát.

Quá trình điều tra xác định Trương Hoàng P mang theo số tiền 2.100.000 đồng dùng để đánh bạc, đã làm cái 04 ván bài thắng được số tiền là 2.600.000 đồng, trong đó bao gồm thắng Trần Văn Th 100.000 đồng, thua Ngô Đức P 400.000 đồng, còn 2.500.000 đồng là ăn được của 2 người đàn ông và 1 phụ nữ trốn thoát. Lúc bị bắt quả tang bị thu giữ số tiền là 4.700.000 đồng.

Ngô Đức P mang theo số tiền 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc. Tham gia đặt cược 04 ván bài, mỗi ván đặt cược số tiền là 200.000 đồng, kết quả Phương thắng 03 ván, thua 01 ván nên thu lợi được 400.000 đồng nên lúc bị bắt quả tang bị thu giữ số tiền 2.400.000 đồng.

Trần Văn Th mang theo số tiền 540.000 đồng dùng để đánh bạc. Tham gia đặt cược 03 ván bài, mỗi ván đặt cược số tiền là 100.000 đồng, kết quả Th thắng 01 ván, thua 02 ván nên thua 100.000 đồng, lúc bị bắt quả tang bị thu giữ số tiền 440.000 đồng.

Thu giữ trên chiếu bác số tiền còn lại là 200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền dùng để đánh bạc bị Cơ quan điều tra thu giữ được trên chiếu bạc của P, Phương và Th là 7.740.000 đồng.

Thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - 05 bộ bài 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu dùng ngồi đánh bạc; 200.000 đồng thu trên chiếu bạc là tiền các con bạc đậu ra để đặt cược cho ván thứ 5 nhưng do có 3 con bạc bỏ trốn.
  • - Thu giữ của Trương Hoàng P: số tiền 4.700.000 đồng dùng để đánh bạc, 01 điện thoại Samsung màu đen là tài sản cá nhân của P không dùng để đánh bạc.
  • - Thu giữ của Ngô Đức P: số tiền 2.400.000 đồng dùng để đánh bạc, 01 điện thoại Nokia màu xanh là tài sản cá nhân của Phương không dùng để đánh bạc.
  • - Thu giữ của Trần Văn Th: số tiền 440.000 đồng dùng để đánh bạc, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A80 là tài sản cá nhân của Th không dùng để đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 284/CT-VKSBTH ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th về tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hoặc các hành vi khác để buộc bị cáo khai không đúng sự thật khách quan của vụ án. Các bị cáo đã nhận thực được việc làm của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội xin hứa không bao giờ tái phạm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời nói sau cùng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng P 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Đức P từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn Th 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th khai nhận trong các giai đoạn điều tra, truy tố các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không ai ép buộc các bị cáo khai không đúng với ý chí của mình. Các bị cáo đã thực hiện các hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản hỏi cung bị can, biên bản thu giữ vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

  3. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Khoản 00 giờ 00 phút, ngày 25/2/2024, tại bờ kè lô L đối diện nhà số TC/TS BQ, phường M, quận BT, Thành phố H, Công an quận BT phát hiện và bắt quả tang các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th có hành vi đánh bài ăn tiền cùng 02 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch nhảy xuống sông bỏ trốn và 01 người phụ nữ không rõ lai lịch trong lúc hỗn loạn đã bỏ trốn thoát.

    Hình thức đánh bài của các bị cáo là đánh bài cào trên bộ bài tây 52 lá, cách đánh chia mỗi tụ là 03 lá bài, sau đó sẽ đếm điểm tổng cộng của 03 lá bài đã được chia và lấy số của hàng đơn vị làm điểm của ván bài, điểm được tính từ 0 điểm đến 9 điểm. Các lá bài tây được tính là 10 điểm, nếu tụ nào có 3 lá bài tây được gọi là “ba cào” được tính là số điểm lớn nhất. Các nhà con sẽ so sánh điểm với nhà cái, nếu nhà con lớn điểm hơn điểm nhà cái thì nhà cái phải chung số tiền mà nhà con đã đặt cược theo tỷ lệ 1:1 và ngược lại. P quy định các tay con chỉ được đặt tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng trên 1 ván, ăn thua trực tiếp với nhà cái, các tay con không được đá riêng với nhau, không có hình thức cào “dùa” nghĩa là bất cứ nhà nào nếu có số điểm cao nhất thì thắng và ăn hết số tiền tất cả các nhà đã đặt cược. Thu giữ trên chiếu bạc 200.000 đồng, 01 bộ bài tây đã sử dụng, 04 bộ bài tây chưa sử dụng, 01 chiếu cói. Bị cáo Trương Hoàng P mang theo số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc và đã thắng được 2.600.000 đồng. Tổng công thu giữ của Trương Hoàng P là 4.700.000 đồng. Bị cáo Ngô Đức P mang theo số tiền 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc và đã thắng được 400.000 đồng. Tổng cộng thu giữ của Ngô Đức P là 2.400.000 đồng. Bị cáo Trần Văn Th mang số tiền 540.000 đồng dùng để đánh bạc, đã thua hết 100.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ số tiền còn lại là 440.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th dùng để đánh bạc và thu giữ trên chiếu bạc là 7.740.000 đồng (bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).

  4. Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  5. Các bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th là người đã trưởng thành, đã đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, do nhất thời các bị cáo đã cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “cào” trên bộ bài tây 52 lá, ăn thua với nhau trực tiếp bằng tiền, các bị cáo thực hiện việc đánh bài một cách cố ý, việc bị phát hiện và bắt quả tang nằm ngoài ý thức thủ quan của các bị cáo, tội phạm đã hoàn thành.

    Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Hoàng P, Ngô Đức P và Trần Văn Th là nguy hại cho xã hội, vì đánh bạc là một trong những tệ nạn gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự xã hội, đây chính là nguyên nhân sâu xa phát sinh một số loại tội phạm khác. Việc chơi bạc còn tạo cho con người có thói quen trông đợi vào sự rủi may trong cuộc sống, biếng lười lao động, không chú tâm làm ăn lương thiện, là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình. Những người có hành vi vi phạm tùy tính chất mức độ sẽ bị xử lý theo pháp luật; các bị cáo nhận thức được điều này nhưng do tính tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân, lai lịch của các bị cáo thì mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  6. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Trương Hoàng P là người rủ rê các bị cáo khác đánh bạc và cũng là người dùng số tiền nhiều nhất để đánh bạc, các bị cáo Ngô Đức P và Trần Văn Th tham gia với vai trò là người trực tiếp tham gia đánh bạc. Do nhất thời tham gia đánh bạc nhằm thu lợi bất chính, các bị cáo chưa có phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, chưa cấu kết chặt chẻ với nhau, do bộc phát nhất thời. Tính chất, mức độ của tội phạm được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn. Vì vậy, căn cứ vào từng hành vi, tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo, để Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.

  7. Đối với các đối tượng khác là 02 người nam và 01 người phụ nữ (Không rõ lai lịch) khi bị phát hiện bắt quả tang, lợi dụng lúc hoảng loạn đã nhanh chóng nhảy xuống sông tẩu thoát. Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh đã xác minh điều tra nhưng chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

  8. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo Trương Hoàng P và Ngô Đức P: Không có

  9. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Văn Th: Không có. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết về nhân thân và tiền sự của bị cáo như sau:

    Năm 1997, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử 03 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 721/HSST ngày 08/05/1977. Đã chấp hành hình phạt tù tại trại giam Chí Hòa, đến ngày 24/02/1988, Trại giam Chí Hòa đã chuyển Th đến chấp hành án tại Trại giam Cái Tàu, tỉnh Cà Mau. Năm 2002, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 1313/QĐUB ngày 17/10/2002 đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng. Ngày 12/9/2004, chấp hành xong quyết định trên. Năm 2011, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 234/ HSST ngày 30/9/2011. Đã đóng án phí. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/03/2013 theo quyết định số 302 ngày 06/03/2013. Tuy bị cáo đã chấp hành hình phạt của các Bản án và quyết định nêu trên, đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân rất xấu.

    Tiền sự: Bị cáo Trần Văn Th có 01 tiền sự chưa được xóa, năm 2021 Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong quyết định ngày 19/7/2022. Đáng lẽ bị cáo phải lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải, tu chí làm ăn lương thiện, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

  10. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Hội đồng xét xử xét thấy, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Trương Hoàng P và bị cáo Ngô Đức P có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo nêu trên, kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính để giảm nhẹ cho các bị cáo Trương Hoàng P và bị cáo Ngô Đức P một phần hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Trần Văn Th áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Nhận thấy, tính đến ngày xét xử bị cáo Trương Hoàng P đã bị tạm giam 09 tháng tù. Bị cáo Ngô Đức P đã bị tạm giam 07 tháng 08 ngày tù, trong khoảng thời gian tạm giam này các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, đã nhận thức được việc làm của mình là sai trái và vi phạm pháp luật và cam kết sẽ không bao giờ tái phạm. Xét tính chất, mức độ của tội phạm được thực hiện trong vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

    Xét thấy, không cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo Trương Hoàng P và Ngô Đức P ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt bằng với thời gian tạm giữ tạm giam là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo, không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

    Riêng bị cáo Trần Văn Th có nhân thân rất xấu và hiện có một tiền sự chưa được xóa, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

  11. Ở dạng tội phạm này ngoài hình phạt chính là phạt tù ra thì các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm ổn định, nên nghĩ không phạt bổ sung bằng tiền với các bị cáo là phù hợp.

  12. Về xử lý vật chứng:

    • - 05 bộ bài 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu dùng ngồi đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
    • - Số tiền 200.000 đồng thu trên chiếu bạc là tiền các con bạc để ra để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, dùng vào việc phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • - Thu giữ của Trương Hoàng P: Số tiền 4.700.000 đồng dùng để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, dùng vào việc phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • - 01 điện thoại Samsung màu đen là tài sản cá nhân của Trương Hoàng P không dùng để đánh bạc. Không phải là vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Trương Hoàng P theo quy định.
    • - Thu giữ của Ngô Đức P: Số tiền 2.400.000 đồng dùng để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, dùng vào việc phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • - 01 điện thoại Nokia màu xanh là tài sản cá nhân của Ngô Đức P không dùng để đánh bạc. Không phải là vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Ngô Đức P theo quy định.
    • - Thu giữ của Trần Văn Th: Số tiền 440.000 đồng dùng để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, dùng vào việc phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung A80 là tài sản cá nhân của Trần Văn Th không dùng để đánh bạc. Không phải là vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Trần Văn Th theo quy định.
  13. Về trách nhiệm dân sự: Không có

  14. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Căn cứ vào Điều 327, khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    1.1. Xử phạt bị cáo Trương Hoàng P 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

    1.2. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trương Hoàng P do bị cáo có thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Căn cứ vào Điều 327, khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    2.1. Xử phạt bị cáo Ngô Đức P 07 (bảy) tháng 08 (tám) ngày tù về tội “Đánh bạc”.

    2.2. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Ngô Đức P do bị cáo có thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/4/2024.

  4. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

    • + Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 7.740.000 đồng (bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng) là tiền thu giữ của các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.
    • + Tuyên trả lại cho bị cáo Trương Hoàng P: 01 điện thoại Samsung màu đen.
    • + Tuyên trả lại cho bị cáo Ngô Đức P: 01 điện thoại Nokia màu xanh.
    • + Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Văn Th: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A80.
    • + Tuyên tịch thu tiêu hủy: 05 bộ bài 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu dùng ngồi đánh bạc.
  5. (Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 15 giờ 00 phút, ngày 24/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và giấy nộp tiền vào kho bạc Nhà nước).

  6. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh
  • - VKSND, CA Q. Bình Thạnh;
  • - Chi cục THA Dân sự Q.BT;
  • - THA HS;
  • - PC.27 Công an Tp.HCM;
  • - Trại giam
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội đánh bạc (gambling)

  • Số bản án: 263/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Gambling)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Hoàng Ph và đồng phạm Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger