Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 263/2024/HS-ST

Ngày: 25/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Nhung và bà Hồ Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Đoan và bà Đoàn Thu Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Thông báo về việc mở lại phiên toà số 01/2024/HSST –TB ngày 01/10/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Ích H, sinh ngày: 01/01/2006, tại: Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hoàng Ích Đ và bà Nguyễn Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến ngày 04/7/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến ngày 02/10/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam; Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H; có mặt.

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: ông Hoàng Ích Đ, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; đều cư trú tại: tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, là bố mẹ nuôi hợp pháp của bị cáo; có mặt.

* Bị hại: chị Phạm Thị D, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phạm Văn D1, sinh năm 1978; nơi cư trú: tổ H, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Anh Lê Văn P, sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nơi ở hiện tại: tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

* Người làm chứng: anh Đỗ Quốc V, sinh năm 2008; nơi đăng ký thường

trú: thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện tại: tổ H, khu E, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật: chị Đỗ Thị G, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 07/5/2024, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Hoàng Ích H nảy sinh ý định đi lang thang ở khu vực phường H và Hồ N, thành phố H lợi dụng sơ hở của người dân có xe ô tô đỗ ở vỉa hè nhưng quên không khoá cửa xe để trộm cắp tài sản trong xe. Đến khoảng 23 giờ 46 phút cùng ngày, khi H đến nhà số F thuộc, tổ A, khu B, phường H, thành phố H của chị Phạm Thị D thấy xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng, biển kiểm soát 14A-796.23 của chị D đỗ trong sân phía trước cửa nhà, không có cổng, xung quanh khu vực để xe không có người nên H đến gần thử mở cửa phía bên lái của xe ô tô thì mở được. H vào xe tìm tài sản thì thấy trong cốp để tay ở cạnh ghế lái có 02 cọc tiền trị giá 100.000.000 đồng bao gồm các tờ mệnh giá 500.000 đồng. Do lo sợ bị phát hiện nên H không lấy hết mà chỉ rút một xấp tiền rồi bỏ đi. Trên đường đi H bỏ tiền ra đếm thì biết lấy trộm được là 41 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tương đương số tiền 20.500.000 đồng. Sau khi trộm cắp, H đến quán G1 thuộc phường H, thành phố H thì gặp Đỗ Quốc V. H lấy tiền ra cho V xem rồi nói số tiền trên là do H vừa lấy trộm được.

Khoảng 08 giờ ngày 08/5/2024, H đến cửa hàng mua bán xe máy cũ “T" thuộc tổ A, khu A, phường C, thành phố H, của anh Phạm Văn D1 và sử dụng số tiền trộm cắp được mua 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Victoria, màu xanh bạc, biển kiểm soát 14AA-065.12 với giá 9.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại. Sau đó, H rủ V đến cửa điện thoại “Hoàng Phúc 2” thuộc tổ A, khu F, phường H, thành phố H dùng số tiền trộm cắp được mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, dung lượng 64GB với giá 1.700.000 đồng của anh Lê Văn P(chủ cửa hàng) để sử dụng. Ngoài, H chi tiêu cá nhân hết số tiền 4.300.000 đồng, số tiền còn lại là 5.500.000 đồng giữ. Đến khoảng 02 giờ ngày 09/5/2024, H và V đang trên đường đi chơi Game thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc, H đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Khoảng 09 giờ ngày 08/5/2024, khi chị D đến ngân hàng A để gửi số tiền 100.000.000 đồng tiết kiệm thì phát hiện bị mất số tiền 20.500.000 đồng. Sau khi kiểm tra camera tại nhà phát hiện số tiền trên bị người khác chiếm đoạt nên chị D đã đến Công an trình báo.

Tại kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 411/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của V1 - Bộ C1, xác định độ tuổi của Hoàng Ích H tại thời điểm giám định (tháng 5 năm 2024) là: từ 17 năm 9 tháng đến 18 năm 3 tháng.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Hoàng Ích H tự nguyện giao nộp các đồ vật, tài sản gồm: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Victoria, màu xanh bạc, BKS 14AA-065.12 số máy VBL139FMBT8302541, số khung RL9BCB3UMMBL02541; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, dung lượng 64GB; số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng); 01 quần bò dài màu đen, 01 đôi dép trên quai có chữ “LA” và 01 áo khoác dài tay có mũ liền áo đều đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị D số tiền 5.500.000đ và chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long số vật chứng còn lại để bảo quản, chờ xử lý.

Anh Phạm Văn D1 đã tự nguyện trả lại chị D số tiền 9.000.000đ, anh Lê Văn P đã tự nguyện trả lại chị D số tiền 1.700.000đ. Chị P đã nhận đủ số tiền trên và đề nghị trả lại xe mô tô, điện thoại nêu trên cho anh P, anh D1.

Tại bản cáo trạng số 3390/CT-VKSHL ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố Hoàng Ích H, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

  • Bị cáo khai về hành vi trộm cắp tài sản như trong quá trình điều tra.
  • Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Hoàng Ích H từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm bắt tạm giam (ngày 01/10/2024), được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến ngày 04/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự, trả lại anh Phạm Văn D1 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Victoria, BKS 14A-065.12, số máy VBL139FMBT8302541, số khung RL9BCB3UMMBL02541; trả lại anh Lê Văn P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 6s Plus, dung lượng 64GB), màu hồng, đã qua sử dụng; tịch thu, tiêu huỷ: 01 chiếc quần bò, màu xanh, đen kích thước (87x43)cm; 01 chiếc áo khoác nỉ, màu đen, có mũ liền áo, kích thước (56x90)cm; 01 đôi dép cao su màu đen, trên quai dép có chữ LA màu trắng đều đã qua sử dụng; buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Phạm Thị D số tiền 4.300.000 đồng.

  • Bị cáo, người đại diện hợp pháp không tranh luận.
  • Lời nói sau cùng: bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: trong quá trình điều tra bị cáo Hoàng Ích H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án đã nêu trên; tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và khẳng định lời khai nhận trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật; thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi của bị cáo. Kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 07/5/2024, tại tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Ích H đã lợi dụng sơ hở trộm cắp số tiền 20.500.000 đ (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Phạm Thị D để ở cốp đựng đồ cạnh ghế lái bên trong chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển kiểm soát 14A-796.23.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác.

Do đó, Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Ích H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã nêu và viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[2] Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng muốn có tiền ăn tiêu bị cáo đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, hành vi của bị cáo đã thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân, đòi hỏi phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy bị cáo Hoàng Ích H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; quá trình điều tra thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ kết luận giám định độ tuổi trên người sống nêu trên, xét thấy bị cáo phạm tội có thể thuộc trường hợp chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức, điều khiển hành vi còn hạn chế nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tại thời điểm xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi, nhưng xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng.

[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Victoria, BKS 14A-065.12, số máy VBL139FMBT8302541, số khung RL9BCB3UMMBL02541, có nguồn gốc là của anh Phạm Văn D1, bị cáo đã sử dụng số tiền 9.000.000đ trộm cắp được của bị hại để mua chiếc xe trên. Nay, anh D1 đã tự nguyện trả lại cho bị hại số tiền trên và đề nghị nhận lại chiếc xe trên. Bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền 9.000.000đ và đề nghị trả lại chiếc xe trên cho anh D1. Xét thấy, quan điểm của các bên phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận. Do đó, cần trả lại cho anh D1 chiếc xe mô trên. Đối với số tiền 9000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu gì thêm, nên không xét.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 6s Plus, dung lượng 64GB), màu hồng, đã qua sử dụng, có nguồn gốc là của anh Lê Văn P, bị cáo đã sử dụng số tiền 1.700.000đ trộm cắp được để mua chiếc điện thoại trên.Nay, anh P phải đã hoàn trả lại cho bị hại số tiền trên và bị hại đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc điện thoại trên cho anh P. Xét quan điểm trên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận. Do đó, cần trả lại chiếc điện thoại trên cho anh P. Đối với số tiền 1.700.000 đồng, bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu gì thêm, nên không xét.
  • 01 chiếc quần bò, màu xanh, đen kích thước (87x43)cm; 01 chiếc áo khoác nỉ, màu đen, có mũ liền áo, kích thước (56x90)cm; 01 đôi dép cao su màu đen, trên quai dép có chữ LA màu trắng đều đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Tại phiên toà bị cáo không yêu cầu trả lại các đồ vật trên, xét thấy không có giá trị, cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với số tiền 5.500.000đ bị cáo trộm cắp của bị hại chưa sử dụng, Cơ quan điều đã thu giữ và đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại, nên không xét.
  • Số tiền 4.300.000 đồng bị cáo trộm cắp của bị hại đã chi tiêu cá nhân hết, cần buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại theo quy định của pháp luật.

[8] Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[12] Liên quan trong vụ án: anh Đỗ Quốc V được biết bị cáo trộm cắp số tiền trên nhưng không tố giác tội phạm mà còn cùng bị cáo tham gia các giao dịch trái pháp luật từ nguồn tiền do bị cáo trộm cắp mà có. Tuy nhiên, do Đỗ Quốc V chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không đủ căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Hoàng Ích H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: bị cáo Hoàng Ích H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm bắt tạm giam (ngày 01/10/2024), được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam: từ ngày 09/5/2024 đến ngày 04/7/2024.

2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự.

  • - Trả lại anh Phạm Văn D1 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Victoria, biển kiểm soát 14A-065.12, số máy VBL139FMBT8302541, số khung RL9BCB3UMMBL0254, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại anh Lê Văn P 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 6s Plus, dung lượng 64GB), màu hồng, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 chiếc quần bò, màu xanh, đen kích thước (87x43)cm; 01 chiếc áo khoác nỉ, màu đen, có mũ liền áo, kích thước (56x90)cm; 01 đôi dép cao su màu đen, trên quai dép có chữ LA màu trắng đều đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 256/BB-THA ngày 07/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
  • - Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho chị Phạm Thị D số tiền 4.300.000đ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4, Căn cứ khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - Công an TP Hạ Long;
  • - Cơ quan ĐTCATP Hạ Long;
  • - Cơ quan THAHS TP Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 263/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger