|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 263/2024/HC-PT Ngày: 02/5/2024 Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng;
Ông Phạm Đình Khánh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hữu, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 02/2024/TLPT-HC ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2023/HC-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3983/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Kim L, sinh năm 1966; Cùng địa chỉ: Tổ B, khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (bà T có mặt, ông L vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Đỗ Cao V, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ E, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người bị kiện:
- UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu N2 – Phó chủ tịch (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Bích T1 – Phó chủ tịch (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1990 và chị Lê Thanh N, sinh năm 1990; Cùng địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (đều có mặt);
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1953 và bà Lê Thị N1, sinh năm 1965;
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965 và ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: Tổ B, khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
- Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 : Anh Nguyễn Trung T3, sinh năm 1980;
Cùng địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (anh T3 có mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L1: Bà Nguyễn Thị D (ông L1 vắng mặt, bà D có mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Cẩm L2 – Giám đốc phòng G1 (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, ông Đỗ Cao V đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T có thửa đất diện tích 495m² thuộc địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (từ tháng 5/2010 xã M đổi là phường M), được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/12/2002 đứng tên ông Nguyễn Kim L, bà Hoàng Thị T. Thửa đất này có nguồn gốc được tách ra từ diện tích 640m² đất của bố mẹ ông L cho, trong đó gia đình bà Nguyễn Thị D được 145m² đất và gia đình ông L, bà T được 495m² đất. Sau khi được tặng cho, ngày 31/12/2002 gia đình bà D và gia đình ông L đều đã đo đạc và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định. Năm 2006, gia đình ông L bà T bán cho ông bà Nguyễn Thị Thanh H và Lê Việt P 100m² đất; năm 2018 bà H, ông P đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho gia đình anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N. Năm 2011, gia đình ông L, bà T đã bán cho ông bà Nguyễn Văn T2 và Lê Thị N1 221m²; diện tích đất còn lại 174m² hiện đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông L, bà T.
Quá trình mua bán và tách thửa, gia đình ông L, bà T đều đề nghị UBND phường M thực hiện kiểm tra hiện trạng, đo đạc thực tế mốc giới. Tuy nhiên,
UBND phường M đã không thực hiện đo đạc thực tế hiện trạng mà chỉ căn cứ sơ đồ tại bản đồ 1996 để tách thửa. Năm 2021, gia đình ông L, bà T có nhu cầu làm nhà ở nên đã thực hiện đo vẽ, áp sơ đồ thì phát hiện ra thửa đất nhà mình đã được tách làm 2 thửa, trong đó 01 thửa giáp nhà ông T2, bà N1; còn 01 thửa giáp nhà bà Nguyễn Thị D. Tuy nhiên, phần đất giáp nhà bà D lại không được UBND thành phố V đưa vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L, bà T; phần đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông L, bà T hiện nay đều thể hiện các số liệu không đúng so với toàn bộ sơ đồ tọa độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bỏ sót phần đất thuộc sở hữu của gia đình nhà ông L, bà T.
Hiện phần đất này vẫn nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 của gia đình nhưng lại không được đưa vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố V cấp ngày 18/7/2011 cho gia đình ông L, bà T.
Việc UBND thành phố V cho rằng gia đình ông L, bà T tranh chấp mốc giới cùng các hộ liền kề và hướng dẫn ông L, bà T đến Tòa án khởi kiện tranh chấp đất đai là không đúng và có dấu hiệu đùn đẩy trách nhiệm. Bởi lẽ, Tòa án không thể xác định vị trí đất gia đình ông L, bà T ở đâu; việc giao đất, xác định mốc giới, điều chỉnh, bổ sung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của công dân trên địa bàn thành phố V là thuộc thẩm quyền của UBND thành phố V. Việc UBND thành phố V ban hành Quyết định số 1239/UBND- TNMT ngày 26/5/2023 và việc UBND phường M không thực hiện đo đạc, kiểm tra hiện trạng dẫn đến sự sai sót khi cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông L, bà T đã xâm phạm đến quyền và lợi ích gia đình ông bà. Ông L, bà T yêu cầu:
- Hủy Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 26/5/2023 của UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ về việc trả lời đơn.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH536996 đứng tên anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N; địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 12/3/2018.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 167463 đứng tên ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1; địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 18/7/2011.
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ bà Nguyễn Thị D được UBND thành phố V cấp ngày 31/12/2002; địa chỉ: Đ, C, Minh P1, V, Phú Thọ.
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 167462 đứng tên hộ ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T đư ợc UBND thành phố V cấp ngày 18/7/2011; địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Hành vi hành chính không thực hiện đo đạc, kiểm tra hiện trạng, điều chỉnh bản đồ hiện trạng dẫn đến bỏ sót, sai số liệu diện tích đất thuộc sở hữu của
gia đình ông L, bà T tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ167462, thửa đất số 781, tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Yêu cầu UBND thành phố V và UBND phường M phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về thể chất, tinh thần cho gia đình do hành vi và quyết định ban hành sai với tổng số thiệt hại là 150.000.000 đồng. Ngoài ra buộc UBND thành phố V và UBND phường M thực hiện công khai xin lỗi theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung yêu cầu buộc UBND thành phố V và UBND phường M phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về thể chất, tinh thần cho gia đình, do hành vi và quyết định ban hành sai với tổng số thiệt hại là 150.000.000 đồng, buộc UBND thành phố V và UBND phường M thực hiện công khai xin lỗi theo đúng quy định của pháp luật.
* Tại bản tự khai và bản tự khai bổ sung đề ngày 04/8/2023, đại diện của người bị kiện UBND thành phố V trình bày:
Ngày 20/8/1998, bà Nguyễn Thị D được ông Nguyễn Văn N3 và bà Nguyễn Thị G tặng cho quyền sử dụng đất với diện tích 155,0m². Ngày 31/12/2002, UBND thành phố V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị D tại thửa số 786, tờ bản đồ số 15, diện tích 145,0m² đất ở (trừ diện tích làm đường giao thông 10,0m²).
Ngày 31/12/2002, UBND thành phố V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Kim L (là con ông Nguyễn Văn N3 và bà Nguyễn Thị G) tại thửa đất số 781; tờ bản đồ số 15 diện tích 495,0m²; trong đó đất ở 300,0m², đất vườn 195,0m². Nguồn gốc thửa đất do ông cha để lại.
Tháng 7/2006, hộ ông L chuyển nhượng 100,0m² (đất ở 70,0m², đất vườn 30,0m²) cho ông Lê Việt P và bà Nguyễn Thị Thanh H và được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/8/2006 tại thửa đất số 781-1, tờ bản đồ số 15. Diện tích còn lại của ông L, bà T là 395,0m² (đất ở 230,0m², đất vườn 165,0m²) được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/8/2006 tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 15.
Năm 2006, ông P, bà H chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H1 Toàn Thắng và bà Trần Thị Thu H2 thửa đất số 781-1, tờ bản đồ số 15, diện tích 100,0m² (đất ở 70,0m², đất vườn 30,0m²). Năm 2018, ông T4, bà H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N thửa đất số 822 (chỉnh lý từ thửa đất số 781-1), tờ bản đồ số 15, diện tích 100,0m² (đất ở 70,0m², đất vườn 30,0m²).
Ngày 26/4/2011, ông L, bà T tiếp tục chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 diện tích 221,0m² (đất ở 150,0m², đất vườn 71,0m²) và được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 18/7/2011 tại thửa đất số 781-2, tờ bản đồ số 15. Diện tích còn lại của ông L, bà T là 174,0m² (đất ở 80,0m², đất vườn 94,0m²), được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/7/2011 tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 15.
Căn cứ đơn đăng ký đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ hộ, hồ sơ do UBND phường M lập và xác nhận, phòng T12 đã thẩm định trình UBND thành phố V để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các ông (bà) theo quy định.
Hiện nay các hộ có phát sinh tranh chấp, UBND phường M đã tổ chức khảo sát đo đạc lại hiện trạng sử dụng đất của các hộ, qua đó kích thước các thửa đất của anh Nguyễn Đình K, ông Nguyễn Văn T2 đều tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, riêng kích thước thửa đất của hộ bà D cạnh giáp với đường giao thông là 13,5m (tăng khoảng 3,5m so với sơ đồ thửa đất trong giấy cho cháu quyền sử dụng đất của ông N3, bà Gia cho ông L1, bà D là 10m).
Do đó, diện tích thửa đất của hộ bà Nguyễn Thị D tăng khoảng 46,9m², anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N tăng khoảng 7,8m², ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 tăng khoảng 14,0m², còn thửa đất của ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T giảm diện tích khoảng 83,6m².
Gia đình anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N và gia đình ông Nguyễn Văn T2, bà Lê Thị N1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sử dụng đúng theo ranh giới nhận chuyển nhượng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể: Gia đình ông T2, bà N1 nhận chuyển nhượng nhà và đất từ gia đình ông L, bà T, trên đất có nhà và tường rào ranh giới với nhà ông L, bà T sử dụng ổn định từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay, hiện nay còn móng tường rào là ranh giới giữa 02 nhà nên việc gia đình ông L, bà T cho rằng bị lấn chiếm đất là không có cơ sở. Tương tự nhà anh K, chị N nhận chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với 02 hộ xung quanh và cách gia đình ông L, bà T 01 ô đất (gia đình ông T2, bà N1) nên việc gia đình ông L, bà T cho rằng gia đình anh K, chị N lấn chiếm đất là không có cơ sở.
Đối với yêu cầu của ông L, bà T đề nghị được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần với số tiền 150.000.000 đồng nhưng không có căn cứ, đề nghị Tòa án không chấp nhận nội dung này.
Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Sau khi có kết quả giải quyết, UBND thành phố sẽ thực hiện các quyết định của bản án theo quy định.
* Đại diện của người bị kiện UBND phường M, thành phố V trình bày:
Hiện nay các hộ có phát sinh tranh chấp, UBND phường M đã tổ chức khảo sát đo đạc lại hiện trạng sử dụng đất của các hộ, qua đó kích thước các thửa đất của anh Nguyễn Đình K, ông Nguyễn Văn T2 đều tăng so với GCNQSDĐ
đã cấp, riêng kích thước thửa đất của hộ bà D cạnh giáp với đường giao thông là 13,5m tăng khoảng 3,5m (so với sơ đồ thửa đất trong giấy cho cháu quyền sử dụng đất của ông N3, bà Gia cho ông L1, bà D là 10m).
Do đó, diện tích thửa đất của hộ bà Nguyễn Thị D tăng khoảng 46,9m², anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N tăng khoảng 7,8m², ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 tăng khoảng 14,0m², còn thửa đất của ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T giảm diện tích khoảng 83,6m².
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ ông bà K - Nga, T2 – N: Khi thực hiện làm thủ tục có kiểm tra hiện trạng, các hộ dân liền kề có ký xác nhận (có hồ sơ kèm theo). Nay quan điểm của UBND phường đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu bồi thường và công khai xin lỗi UBND phường có quan điểm không nhất trí.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị Lê Thanh N và anh Nguyễn Đình K trình bày:
Năm 2017 gia đình anh K, chị N mua lại ô đất của gia đình ông T5, bà H2 (ông T5, bà H2 mua lại của ông bà Phương H3, ông bà Phương H3 mua của ông T, bà L). Hiện trạng khi mua được xây bao quanh ngăn tiếp giáp với gia đình ông L1 và ông T2 (hai bên), tường xây do ông T, bà L là người xây. Quá trình anh chị mua đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có địa chính và UBND phường đo đạc, cắm mốc giới để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với ranh giới thửa đất từ khi ông T, bà L chuyển nhượng cho ông bà Phương H3, sau đó ông bà Phương H3 chuyển nhượng cho ông T5, bà H2 và từ ông T5, bà H2 chuyển nhượng sang nhà anh chị đều có mốc giới rõ ràng là tường rào gạch chín, gạch xỉ, hiện nay tường rào trên vẫn còn.
Thời điểm năm 2010, ông L, bà T bán đất cho gia đình ông T2, bà N1, tại biên bản kiểm tra hiện trạng có rất nhiều thành phần tham gia, thời điểm này gia đình bà H3, ông P đang quản lý sử dụng có ký vào biên bản kiểm tra hiện trạng. Các gia đình qua nhiều lần chuyển nhượng có sử dụng ổn định và không có tranh chấp từ đó cho đến nay.
Căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, bà N1, tại biên bản kiểm tra hiện trạng thể hiện phần đất còn lại của ông L, bà T thì mặt trước giáp đường là 7,1m; mặt sau giáp nhà ông C là 3m. Nhà ông L, bà T giáp nhà ông T6, đề nghị kiểm tra diện tích đất nhà ông T6 xem có lấn sang nhà ông L, bà T hay không và đề nghị xem xét trong quá trình làm đường, cống rãnh trước đây có lấn vào đất của hộ dân gây ảnh hưởng đến mốc giới giữa các hộ dân hay không?
Gia đình anh K, chị N đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH536996 ngày 12/3/2018. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, bà T đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 gia đình
gồm gia đình nhà anh chị, gia đình ông L1 - bà D, gia đình ông T2 - bà N1 và thì anh chị có ý kiến như sau:
Thứ nhất, về diện tích đất được xác định là thừa so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Anh chị không được tham gia bất kỳ buổi đo đạc nào và không ký bất kỳ một giấy tờ nào để xác định mốc giới được đo từ đâu đến đâu để ra được diện tích nhà anh chị là 108m², cũng như diện tích đất của các hộ liền kề, các điểm đo đạc có tọa độ ra sao, có đúng với tọa độ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh chị và có hợp pháp hay không. Trong toàn bộ các biên bản đo đạc khi giao dịch chuyển nhượng có sự tham gia của đầy đủ thành phần, thậm chí buổi đo đạc gần nhất khi gia đình anh chị nhận chuyển nhượng từ gia đình ông T4, bà H2 thì diện tích do Công ty Đ1 đo được cũng chỉ là 100m² đất chứ không thừa.
Thứ hai về ranh giới các thửa đất: Nguyên tắc xác định ranh giới giữa các thửa đất liền kề được ghi nhận tại Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015. Đó là, ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Thửa đất gia đình anh chị hiện nay đang đứng tên chủ sử dụng đất từ gia đình ông T4, bà H2. Trước đó gia đình ông T4, bà H2 mua lại từ gia đình ông bà P - H. Gia đình ông bà P - H3 mua lại từ chủ cũ là bố chồng bà T. Đặc biệt, tại lần chuyển nhượng đầu tiên (gia đình ông bà P - H3 là người nhận chuyển nhượng) thì có sự tham gia của chủ cũ là bố chồng bà T ký giáp ranh mà không hề có ý kiến phản đối ranh giới thửa đất của nhà ông L1, bà D. Bố chồng bà T thừa nhận đối với phần diện tích đất nhà ông L1, bà D đã sử dụng. Anh K, chị N cho rằng nếu sai khác về diện tích đất của nhà ông L1 thì có chăng là thừa phần diện tích đất phía miếu T13 (cũ) không thể sử dụng để xây nhà ở chứ thửa đất của gia đình anh chị không hề bị xâm phạm về ranh giới (thửa đất của gia đình anh chị là thửa đất liền kề với thửa đất nhà ông L1, bà D và nhà ông bà Tú N4; anh chị cam đoan nhà ông bà Lực D1 và nhà ông bà Tú N4 không xâm phạm ranh giới thửa đất gia đình anh chị). Việc anh chị mua bán là ngay thẳng, đúng quy định pháp luật; gia đình anh chị không lấn chiếm đất của bất kỳ ai, sai sót có chăng là do công tác đo đạc, tính toán diện tích đất để bán chứ không phải từ việc anh chị lấn chiếm đất hay làm sai lệch mốc giới. Khi bán đất, bố chồng bà T đã bàn giao diện tích đất và xác định mốc giới, ranh giới thửa đất cho anh chị rõ ràng, đầy đủ, có chính quyền địa phương và các hộ liền kề, giáp ranh xác nhận, thể hiện trong các biên bản đo đạc hiện trạng thửa đất. Anh chị nhận chuyển nhượng và sử dụng ổn định, lâu dài cho đến nay. Các lần đo đạc và ký giáp ranh đều xác định mốc giới không bị dịch chuyển, thay đổi; các thửa đất không có tranh chấp với các hộ xung quanh. Bức tường chứng minh mốc giới giữa thửa đất này và nhà ông L1; bức tường với hộ giáp ranh phía sau và gian bếp của nhà ông T2, bà N4 vẫn còn nguyên vẹn từ trước đến nay, không hề có sự dịch chuyển. Đối với thửa đất hiện tại của gia đình anh chị trải qua 03 lần chuyển nhượng hợp pháp, ngay tình, đều được đo đạc, ký giáp ranh và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không hề
nảy sinh ý kiến mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện gì. Cả 03 gia đình đã sinh sống, trồng trọt, chăn nuôi trên diện tích đất theo ranh giới thửa đất nhận chuyển nhượng từ hàng chục năm nay, phù hợp với hiện trạng sử dụng đất. Do vậy có thể xác định thửa đất của gia đình anh K, chị N không có tranh chấp với bất kỳ hộ dân liền kề nào cả. Không biết dựa vào đâu bà T nói thửa đất nhà của anh chị có thừa diện tích đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.
Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T: Theo quy định của pháp luật thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị huỷ trong các trường hợp sau đây:
- Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (khoản 3 Điều 7 Nghị định 43/2014/NĐ-CP)
- Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mới cho bên nhận chuyển quyền (điểm c khoản 2 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP).
- Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (khoản 7 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP).
- Hủy Giấy chứng nhận trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 7 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Gồm có: Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai; Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật Đất đai; Trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp hoặc đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai.
- Tại khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 và đặc biệt là tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:
“2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biển động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Đồng thời, tại khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai quy định:
“5. Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do vậy, trong trường hợp này, thửa đất đã được giao dịch 03 lần, tất cả đều là giao dịch hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và cả 03 lần giao dịch, chuyển nhượng này đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì Nhà nước sẽ không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, căn cứ khoản 5, Điều 87, Nghị định 43/2014/NĐ-CP về Thủ tục thu hồi giấy chứng nhận, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp quy định:
“Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai.
Đặc biệt hơn nữa, theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu mà “Tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”. Tiếp đó, tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rất rõ ràng: “Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu..”. Trong trường hợp của gia đình ông bà thì đã được chuyển giao qua 03 giao dịch dân sự hợp pháp, đều dựa vào việc đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện giao dịch.
Từ các lẽ trên, anh chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ hủy hoặc sửa đổi Thông báo thụ lý vụ án hành chính số 19/2023/TLST- HC ngày 05/7/2023 đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH536996 đứng tên vợ chồng anh chị vì gia đình anh chị không thuộc bất cứ trường hợp nào bị Nhà nước thu hồi hay hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Đồng thời, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thu hồi toàn bộ các văn bản đã gửi các tổ chức tín dụng mà anh chị tham gia giao dịch. Bởi lẽ, trong các văn bản đó nêu thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH536996 đứng tên vợ chồng anh chị đang có tranh chấp, việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của vợ chồng anh chị. Anh chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L, bà T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1 trình bày:
Gia đình bà có mua một thửa đất của ông L, bà T, diện tích 221m²; đầu trong giáp ông C là 8,5m, đầu ngoài giáp đường đi 10,1m. Khi mua trên đất đó đã có 02 gian nhà cũ tính từ tường nhà anh Kiên L3 làm mốc giới. Khi đó có địa chính phường và UBND phường, trưởng khu dân cư đến. Năm 2011 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó ông L3 có cho gia đình bà 8,5m giáp ông C 1m làm cống dẫn thoát nước và chưa trừ 1m giáp mặt đường bê tông để làm đường liên thôn, khi mua đất bà T là người đã xây 02 gian nhà.
Đất nhà ông L3, bà T bị thiếu mà cho là do ba hộ lấn chiếm là không đúng, vì vậy bà yêu cầu đo lại toàn bộ đất nhà ông N3 là bố chồng bà T vì cũng
liên quan đến. Đối với nhà trên đất của bà hiện nay chỉ còn phần móng là do ông bà Lân T7 xây, bà không đồng ý với ý kiến của bà T7, ông L3 yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình, nếu huỷ phải huỷ toàn bộ cả khu thì bà đồng ý.
Anh Nguyễn Trung T3 bổ sung: Phần đất phía sau nhà anh (ông bà T) còn rãnh nước, phía trước còn đường; bản đo vẽ đã không trừ nên diện tích nhà anh mới tăng thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D trình bày:
Năm 1998, cô chú bà là ông Nguyễn Văn N3 và bà Nguyễn Thị Gia n lại cho bà thửa đất, diện tích 155m²; thời điểm đó chú bà đào móng, bắc nóc cho nhà bà, xây tường, xây nhà một bên giáp với nhà anh Q chị N5, bên ngoài là miếu giáp đường, cây cọ, bới tre, bới mây, chuồng lợn. Đối với phần diện tích bên ngoài có miếu giáp đường, cây cọ, bới tre, bới mây, chuồng lợn không thuộc trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà sử dụng từ đó cho đến nay. Năm 2000, bà xây tường rào bao quanh gồm cả phần diện tích không thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến năm 2002, Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm nhà ông bà L3 - T7 bán cho nhà ông bà Hậu P2 đối với mốc giới đo từ tường rào nhà bà, hiện trạng ổn định từ đó cho đến nay. Gia đình bà có ký giáp ranh để gia đình ông bà L3 - T7 bán cho ông bà H3 - P2. Bà không đồng ý với ý kiến của bà T7, ông L3 yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà.
* Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 do bà Phạm Thị Cẩm L2 - Giám đốc phòng G1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Anh Nguyễn Đình K cùng vợ là chị Lê Thanh N; địa chỉ tại Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ hiện đang có quan hệ tín dụng tại phòng G1 thuộc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4.
Anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N ký vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 theo các Hợp đồng tín dụng số 01/2020/7366659/HĐTD ngày 05/3/2020, Hợp đồng tín dụng số 01/2023/7366659/HĐTD ngày 12/6/2023, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/7366659/HĐTD ngày 09/8/2023. Dư nợ đến ngày 12/9/2023 là: Nợ gốc: 1.999.950.000 đồng, Nợ lãi: 8.975.157 đồng.
Để bảo đảm cho các khoản vay trên, anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/7366659/HĐBĐ ngày 04/3/2020; cụ thể:
Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 536996 do UBND thành phố V cấp ngày 12/3/2018, thửa đất số 822, tờ bản đồ số 15; địa chỉ thửa đất: Khu C, Phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/7366659/HĐBĐ ngày 04/3/2020 ký giữa bên thế chấp là anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 đã được công chứng tại Văn phòng C1 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đai thành phố V. Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 là bên nhận thế chấp hợp pháp, tài sản khi thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 đã đáp ứng và thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm, đảm bảo quyền ưu tiên thanh toán cao nhất của B.
Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 với tư cách là bên nhận thế chấp tài sản ngay tình, hợp pháp và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2023/HC-ST ngày 25/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 173, Điều 204, Điều 206, khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Điều 46, Điều 47 Luật Đất đai 2003; khoản 2 Điều 95 Luật Đất đai 2013; Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính và điểm c khoản 2 Điều 145 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; đoạn 2 khoản 2 Điều 19 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính và buộc thực hiện hành vi hành chính.
1.1. Huỷ các quyết định hành chính sau đây:
- Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 26/5/2023 của UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ về việc giải quyết đơn của ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T.
- GCNQSD đất số CH536996 đứng tên anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N, địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 12/3/2018.
- GCNQSD đất số BĐ 167463 đứng tên ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1, địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 18/7/2011.
- GCNQSD đất số G 633669 đứng tên bà Nguyễn Thị D được UBND thành phố V cấp ngày 31/12/2002. Địa chỉ: Đ, C, Minh P1, V, Phú Thọ.
- GCNQSD đất số BD 167462 đứng tên hộ ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T được UBND thành phố V cấp ngày 18/7/2011. Địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
1.2. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Ủy ban nhân dân phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thực hiện hành vi hành chính là đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới, hiện trạng công trình trên đất đối với các thửa đất được tách thửa nêu trên.
2. Ghi nhận sự tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T về việc bồi thường thiệt hại, công khai xin lỗi.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện buộc UBND thành phố V và UBND phường M phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về thể chất, tinh thần, công khai xin lỗi.
Đương sự có quyền khởi kiện lại.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong các ngày 09, 10/10/2023, chị Lê Thanh N, anh Nguyễn Đình K, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo với cùng nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người khởi kiện bà Hoàng Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1 và bà Nguyễn Thị D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là UBND thành phố Việt trì và UBND phường M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh P4 đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Trung T3 (đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N1) giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2023/HC-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và đình chỉ giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Luật Tố tụng hành chính. Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1 và bà Nguyễn Thị D2 đảm bảo đúng quy định tại các Điều 204,205 và 206 Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Kim L là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1 và bà Nguyễn Thị D2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho nội dung kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1 và bà Nguyễn Thị Diễm . Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1 và bà Nguyễn Thị D2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào kết quả tranh tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm, người khởi kiện là ông Nguyễn Kim L vắng mặt và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là ông Đỗ Cao V đã có đơn xin xét xử vắng mặt; đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là UBND thành phố Việt Trì, UBND phường M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh P4 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Trung T3, ông Nguyễn Văn L1 vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị D. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
- Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1 và bà Nguyễn Thị D2 gửi đến Tòa án đảm bảo đúng thời hạn, hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 204, 205 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Tại Đơn khởi kiện ngày 29/6/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/8/2023, ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ yêu cầu hủy Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 26/5/2023 của UBND thành phố V về việc trả lời đơn của ông L, bà T và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn T2, bà Lê Thị N1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N và hành vi không thực hiện đo đạc, kiểm tra hiện trạng, điều chỉnh bản đồ hiện trạng dẫn đến bỏ sót, vào sai số liệu diện tích đất thuộc sở hữu của gia
đình ông L, bà T tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 167462 đối với thửa đất số 781, tờ bản đồ 15; địa chỉ: Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và yêu cầu UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ và UBND phường M phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về thể chất, tinh thần cho gia đình ông, bà do hành vi và quyết định ban hành sai với số tiền 150.000.000 đồng. Đây là các quyết định hành chính và hành vi hành chính tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà T nên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định còn trong thời hạn khởi kiện là đúng theo quy định tại Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2]. Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Gia đình ông L, bà T sử dụng thửa đất diện tích 495m² tại khu C, phường M, thành phố V. Nguồn gốc thửa đất được tách ra từ diện tích 640m² do bố, mẹ ông L cho, trong đó ông L, bà T được chia 495,0m²; hộ ông L1, bà D được 145,0m². Ngày 31/12/2002, hộ ông L, bà T và hộ ông L1, bà D đều đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2006, ông L, bà T chuyển nhượng 100m² đất cho ông H3, bà P1, sau đó ông H3, bà P1 chuyển nhượng cho ông T5, bà H2; năm 2017, ông T5, bà H2 chuyển nhượng lại cho anh K, chị N; năm 2018, anh K, chị N được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 536996. Năm 2011, ông L, bà T chuyển nhượng 221,0m² đất cho ông T2, bà N1; Ngày 18/7/2011, ông T2, bà N1 đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 167463.
[2.2]. Xét tính hợp pháp của Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 26/5/2023 của UBND thành phố V và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ bà Nguyễn Thị D; hộ anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N; hộ ông Nguyễn Văn T2, bà Lê Thị N1 của UBND thành phố V.
Ngày 20/8/1998, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn L1 được ông Nguyễn Văn N3, bà Nguyễn Thị G tặng cho quyền sử dụng đất, diện tích 155m² đất. Ngày 31/12/2002, UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số G 633669 cho hộ bà Nguyễn Thị D, thửa đất số 786, tờ bản đồ số 15, diện tích 145,0m² đất ở (trừ diện tích làm đường giao thông 10,0m²); phần diện tích còn lại của ông N3, bà G là 495m² (có xác nhận hiện trạng của địa chính và UBND xã). Tuy nhiên, thực tế đo đạc hiện trạng sử dụng đất của hộ bà D đang sử dụng 191,8m², tăng so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, riêng kích thước hộ bà D cạnh giáp với đường giao thông là 13,5m tăng khoảng 3,5m (so với sơ đồ thửa đất trong Giấy cho cháu quyền sử dụng đất của ông N3, bà G cho ông L1, bà D là 10m).
Tại thời điểm UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị D thì Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực. Do vậy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính.
Căn cứ Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định như sau:
Đăng ký đất đai ban đầu thực hiện đối với người đang sử dụng đất nhưng chưa kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do T14, Tổng cục Địa chính phát hành hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị theo quy định tại Nghị định 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ.
2. Hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
Hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất do người sử dụng đất lập gồm:
a) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất.
......
c) Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất sử dụng.
3. Trình tự thực hiện.
b) Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra và xác nhận vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất về các nội dung sau đây:
- Hiện trạng sử dụng đất: Tên người sử dụng đất, vị trí, diện tích, loại đất và ranh giới sử dụng đất.
Như vậy, căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn L1 thì UBND xã M không tiến hành xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất hộ bà Nguyễn Thị D chưa thực hiện đúng quy định tại điểm c khoản 2 phần I, Chương 3; điểm c khoản 3 phần I, Chương 3 của Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 nêu trên.
Ngày 31/12/2002, UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 167462 cho hộ ông Nguyễn Kim L, bà Hoàng Thị T (là con của ông Nguyễn Văn N3, bà Nguyễn Thị G); thửa đất số 781, tờ bản đồ số 14, diện tích 495m² (đất ở: 300m², đất vườn: 195m²); nguồn gốc đất do cha ông để lại.
Tháng 7/2006, hộ ông Nguyễn Kim L, bà Hoàng Thị T chuyển nhượng 100m² đất (trong đó đất ở 70,0m², đất vườn 30,0m²) cho ông Lê Việt P, bà Nguyễn Thị Thanh H. Ngày 31/8/2006, UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 781-1, tờ bản đồ số 15 cho ông P, bà H và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 15, diện tích 395m² (đất ở 230m², đất vườn 165,0m²) cho ông L, bà T.
Năm 2006, ông P, bà H chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất thửa đất số 781-1, tờ bản đồ số 15, diện tích 100m² đất (trong đó đất ở 70,0m², đất vườn 30,0m² nêu trên cho ông Hà Toàn T8 và bà Trần Thị Thu H2. Năm 2017, ông T8, bà H2 tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N thửa đất số 822 (chỉnh lý từ thửa đất số 781-1), tờ bản đồ số 15, diện tích 100m² (đất ở 70m², đất vườn 30m²).
Ngày 26/4/2011, ông L, bà T tiếp tục chuyển nhượng 221,0m² đất (đất ở 150m², đất vườn 71,0m²) cho ông Nguyễn Văn T2, bà Lê Thị N1. Ngày 18/7/2011, ông T2, bà N1 được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 781-2, tờ bản đồ số 15. Diện tích còn lại của ông L, bà T là 174m² (trong đó đất ở 80m², đất vườn 94m²) và ngày 18/7/2011 được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 15.
Căn cứ vào kết quả khảo sát đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1 hiện trạng sử dụng đất của các hộ thì diện tích đất của hộ bà Nguyễn Thị D; hộ anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N; hộ ông Nguyễn Đình T9, bà Lê Thị N1 đều tăng so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; riêng thửa đất của hộ ông Nguyễn Kim L, bà Hoàng Thị T giảm khoảng 83,6m².
Tại Biên bản đối thoại, đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T12 thừa nhận các hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 536996 đã cấp cho anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 167463 cấp cho ông Nguyên Văn T10 và bà Lê Thị N1 có sai sốt và đều được tách thửa trên bản đồ, không kiểm tra đo đạc hiện trạng đất, không xác định công trình trên đất có đúng vị trí đất chuyển nhượng hay không.
Như vậy, từ khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2002 cho hộ bà Nguyễn Thị D và hộ ông Nguyễn Kim L, bà Nguyễn Thị T11 thì UBND thành phố V đã không thực hiện việc đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới trên thực địa và trong các lần chuyển nhượng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiếp theo cho hộ ông Lê Việt P và bà Nguyễn Thị Thanh H, hộ anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N, hộ ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 đều không thực hiện việc đo đạc trên thực địa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Căn cứ Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố Việt trì đối với các hộ nêu trên đều chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Do vậy, ông L, bà T11 khởi kiện yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D, hộ anh Nguyễn Đình K và chị Lê
Thanh N, hộ ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 là có căn cứ; đồng thời để giải quyết triệt để vụ án thì cần phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông L, bà T11 cấp ngày 18/7/2011. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định pháp luật, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, bà T11 về việc hủy Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 26/5/2023 của UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ về việc giải quyết đơn của ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH536996 đứng tên anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N cấp ngày 12/3/2018; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 167463 đứng tên ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị N1 cấp ngày 18/7/2011; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 633669 đứng tên bà Nguyễn Thị D cấp ngày 31/12/2002 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 167462 đứng tên hộ ông Nguyễn Kim L và bà Hoàng Thị T cấp ngày 18/7/2011 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3]. Về việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 536996 của anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N tại Ngân hàng B1.
Căn cứ Án lệ số 36/2020/AL ngày 05/02/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trong vụ án này người khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ anh K, chị N để buộc UBND thành phố V cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng diện tích đất và mốc giới nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - chi nhánh P4; nếu có tranh chấp thì ngân hàng có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác.
[4]. Tháng 07/2006, ông L, bà T chuyển nhượng diện tích 100m² đất (đất ở 70,0m², đất vườn 30,0m²) cho ông Nguyễn Việt P3, bà Nguyễn Thị Thanh H. Sau đó, ông P3, bà H chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho ông Hà Toàn T8, bà Trần Thị Thu H2. Năm 2017, ông T8, bà H2 tiếp tục chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Đình K và chị Lê Thanh N. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định ông Lê Việt P, bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Hà Toàn T8, bà Trần Thị Thu H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót. Tuy nhiên, xét thấy việc thiếu sót này không ảnh hưởng đến bản chất vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[5]. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim L, bà Hoàng Thị T là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới bảo vệ cho nội dung kháng cáo của mình. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D; Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.
[6]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
[7]. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ kho ản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2023/HC-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Phú Thọ.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N, bà Lê Thị N1, bà Nguyễn Thị D mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Được đối trừ số tiền do anh Nguyễn Đình K, chị Lê Thanh N đã nộp 300.000 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0000025, 0000026 cùng ngày 24/10/2023, bà Lê Thị N1 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000005, bà Nguyễn Thị D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000006 cùng ngày 16/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hải |
Bản án số 263/2024/HC-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Số bản án: 263/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NKK: Hoàng Thị T; Nguyễn Kim L và NBK: UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ; UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ vụ án "Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai"
