Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/DS-PT

Ngày 14-6-2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Cường;

Ông Hà Chí Quốc.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 220/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ F, ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ F, ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo uỷ quyền; văn bản uỷ quyền ngày 10-3-2023; vắng mặt.

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích K, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số B, M, phường T, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Áp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo uỷ quyền; văn bản uỷ quyền ngày 03-7-2023; có mặt.

  3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959; bà Dương Thị Kim H1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ C, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; ông H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; bà H1 có mặt.
  4. Người làm chứng: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1952; nơi cư trú: Số A, đường B, tổ B, L, Phường F, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh; có mặt.
  5. Người kháng cáo: Anh Trần Văn T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 10 năm 2023, ngày 19-12-2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Trần Văn T và người đại diện theo uỷ quyền của anh T là bà Trần Thị N trình bày:

Anh T nhận chuyển nhượng của ông Võ Hồng V diện tích đất 250 m², thửa số 182, tờ bản đồ số 22 và nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị T2, diện tích đất 245 m²; sau đó anh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Giấy chứng nhận) số vào số cấp giấy chứng nhận CH01558/007609.CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10- 02- 2014; đối với tổng diện tích đất là 495 m², thửa số 230, tờ bản đồ số 22; tọa lạc tại ấp C (nay là ấp P), xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Gia đình chị K (là người có đất liền kề thửa đất số 230 của anh T) đã có hành vi lấn chiếm đất của anh T làm đường đi và đổ đất trên diện tích 120 m². Nay anh T yêu cầu chị K và gia đình hiện đang lấn chiếm trả lại diện tích 120 m² để anh đủ diện tích đất là 615 m² có kích thước mặt tiền ngang 7 m (gồm 02 đoạn 5,39 m + 1,61 m) dài hết đất và mặt hậu ngang 5,8 m (gồm hai đoạn 5 m + 0,8 m).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 trình bày:

Chị Nguyễn Thị Bích K được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận ngày 03- 3- 2011 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00479/00/...TA.VP; đối với diện tích 1.768 m², thửa số 213, tờ bản đồ số 22; toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc đất được cha mẹ ruột là ông Nguyễn Văn H, bà Dương Thị Kim H1 tặng cho.

Thửa đất của chị K không liền kề với thửa đất của anh T, giữa hai thửa đất có con đường mòn cũ được hình thành do người dân làm kinh tế mới trước đây từ S lên Tây Ninh chừa làm đường đi chung; không cấp Giấy chứng nhận cho ai. Chị K xác định không lấn chiếm đất của anh T, nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Nguồn gốc đất của anh T là nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị T2; bà T2 được cấp Giấy chứng nhận diện tích 495 m², thửa số 92, tờ bản đồ số 22; bà T2 đã chuyển nhượng cho bà H1, sau bà H1 chuyển nhượng cho ông V diện tích 250 m² là một phần thửa số 92; ông V chuyển nhượng cho anh T; còn lại diện tích là 245 m² sau này bà T2 chuyển nhượng cho anh T; nhập chung thành một Giấy chứng nhận nên anh T được cấp đủ diện tích 495 m², thửa số 230, tờ bản đồ 22; do đó trên thực tế bà T2 không còn đất để chuyển nhượng cho anh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H, bà Dương Thị Kim H1 trình bày:

Ông bà xác định hiện nay đang ở trên đất đã tặng cho con ruột là chị K và đi ra đường lớn trên diện tích đất anh T đang tranh chấp. Giữa đất của chị K thửa số 213 và đất của anh Thích t số 230, tờ bản đồ 22; từ xưa đến nay đã có con đường đi chung ngang 4 m dài hết đất; gia đình ông bà đi trên con đường mòn này và không có lấn chiếm đất của anh T; nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh T.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30-11-2023 (bút lục số 123, số 124); bản tự khai (bút lục số 184, số A) người làm chứng bà Trần Thị T2 trình bày với nội dung:

Trước đây bà có đất, sau thì Nhà nước đo đạc lại diện tích đất của bà là 495 m², thửa số 92, tờ bản đồ số 22; toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh và được Ủy ban nhân dân Huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp đổi Giấy chứng nhận ngày 23-3-2005 số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00042/2005/QĐ-UB HL mang tên Trần Thị T2, Lê Ngọc L. Bà không biết đất của bà được cấp kích thước mặt tiền và mặt hậu là bao nhiêu mét vì trước đó nhà nước thu hồi giấy và cấp lại cho bà.

  • - Ngày 20-3-2006 vợ chồng bà chuyển nhượng 5 m đất ngang x 50 m = 250 m² cho bà Hoàng Thị H2. Sau đó bà H2 chuyển nhượng cho Võ Hồng V diện tích đất này, thửa số 182, tờ bản đồ số 22; đến năm 2013 ông V chuyển nhượng lại cho anh Trần Văn T.
  • - Phần đất còn lại nằm ở vị trí phía sau đất của ông V và còn 2 m ngang giáp đường kéo dài hết đất, diện tích 245 m² thì vợ chồng bà chuyển nhượng cho anh Trần Văn T.

Bà xác định chỉ chuyển nhượng cho anh T (con bà N) diện tích 245 m² là phần còn lại của thửa đất số 92, tờ bản đồ số 22; ngoài ra không chuyển nhượng diện tích đất nào khác cho anh T. Giữa đất của bà và đất của gia đình ông H không có con đường.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:12/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh quyết định:

Căn cứ Điều 158, 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 202, 203 của Luật đất đai; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận đơn khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của anh Trần Văn T yêu cầu chị Nguyễn Thị Bích K trả diện tích 120 m² (không có số thửa), thuộc tờ bản đồ 34 (cũ 22) tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh (kèm theo sơ đồ đất đo vẽ ngày 10/11/2023 - bút lục 106). Phần đất có tứ cận:

  • + Hướng đông giáp thửa 210 dài 0,80 m;
  • + Hướng tây giáp đường N – Tà Xia dài 1,61 m;
  • + Hướng nam giáp thửa 230 (đất anh T) dài 100,45 m;
  • + Hướng bắc giáp hiện trạng con đường không có số thửa dài 100,73 m.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 07-3- 2024 anh Trần Văn T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Anh Trần Văn T trình bày với nội dung: Anh nhận chuyển nhượng 2 m ngang mặt đường và toàn bộ diện tích đất 245 m² phía sau của bà T2 được bà T2 viết bản tự khai xác nhận, cộng với 5 m ngang đất nhận chuyển nhượng của ông V; thành 7 m ngang mặt tiền phía trước và 5 m ngang mặt hậu; tổng cộng diện tích 620 m² nằm trong thửa đất số 92 của bà T2. Do đó, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh.

Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn tranh luận với nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, vì: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T được cấp diện tích 495 m², qua đo đạc là đúng hiện trạng; giữa 02 thửa đất có con đường do nhiều người dân sử dụng; bà T2 không có quyền sử dụng đối với diện tích đất 120 m² nên không có quyền chuyển nhượng cho anh T.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

  • + Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • + Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Tại cấp sơ thẩm nguyên đơn uỷ quyền cho mẹ ruột là bà Trần Thị N tham gia giải quyết vụ án; tại cấp phúc thẩm anh T đề nghị được trực tiếp tham gia tố tụng; nên việc vắng mặt của bà N không phải là căn cứ để Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.

[1.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các đương sự thống nhất với sơ đồ hiện trạng sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đai Châu Thành đo đạc và xác nhận ngày 10-11-2023, thể hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích 120 m², không có số thửa, tờ bản đồ số 34; toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận:

  • - Phía Đông giáp thửa đất số 210 dài 0,80 m;
  • - Phía Tây giáp đường N – Tà Xia dài 1,61 m;
  • - Phía Nam giáp thửa đất số 230 của anh Trần Văn T dài 100,45 m;
  • - Phía Bắc giáp hiện trạng con đường không có số thửa dài 100,73 m.

[2.2] Xem xét nguồn gốc quyền sử dụng đất và quá trình hình thành đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 22; tọa lạc tại ấp C (nay là ấp P), xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; của anh Trần Văn T, thấy rằng:

[2.2.1] Căn cứ dữ liệu đất đai do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp có cơ sở xác định: Thửa đất trên trước đó là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 22, diện tích 495 m² của chủ sử dụng đất là hộ bà Trần Thị T2, sinh năm 1952, ông Lê Ngọc L, sinh năm 1955; ngụ ấp C (nay là ấp P), xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh (bà T2 là người làm chứng trong vụ án); được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp đổi Giấy chứng nhận ngày 23-3-2005, số vào số cấp giấy chứng nhận H00042/148/2005/QĐ-UB HL (bút lục số 90).

[2.2.1a] Ngày 03-3-2006 bà T2, ông L chuyển nhượng diện tích 250 m², thửa số 182 (tách từ thửa số 92/495 m²), tờ bản đồ số 22; cho bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1966, ngụ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh và được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Tây Ninh xác nhận cập nhật biến động vào Giấy chứng nhận của bà T2, ông L ngày 20- 3- 2006, nội dung: Chuyển nhượng diện tích 250 m² cho bà Hoàng Thị H2; diện tích đất còn lại là 245 m² (bút lục số 90). Sau đó, bà Hoàng Thị H2 chuyển nhượng lại thửa đất số 182 cho ông Võ Hồng V, sinh năm 1966, ngụ ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; ông V được được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận ngày 29-12-2006, số vào số cấp giấy chứng nhận H01013/4708/2006/HĐ-CN HL; đối với phần đất diện tích 250 m², thửa số 182, tờ bản đồ số 22 (bút lục số 92); có kích thước chiều ngang mặt tiền giáp đường là 5 m; chiều ngang mặt hậu là 5 m; chiều dài 02 cạch là 50 m. Ngày 03-4-2013 ông V chuyển nhượng thửa đất số 182 cho anh Trần Văn T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C chứng thực số 47, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD (bút lục số 23, số B).

[2.2.1b] Phần diện tích đất còn lại là 245 m² thuộc thửa đất số 92 của bà T2, ông L được xác định có vị trí: Hướng Đông giáp đất của ông Võ Hồng V nghĩa là nằm ở phía sau đất của ông Võ Hồng V tính từ hướng Đông giáp đường kéo về hướng Tây. Ngày 17-9-2013 bà T2, ông L chuyển nhượng diện tích 245 m² cho anh Trần Văn T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C chứng thực số 169, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD (bút lục số 25, số B); được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Tây Ninh xác nhận cập nhật biến động vào Giấy chứng nhận của bà T2, ông L ngày 31- 12- 2013, nội dung: Thu hồi giấy chứng nhận do chuyển quyền sử dụng đất (bút lục số 90).

[2.2.1c] Ngày 19- 12- 2013 anh Trần Văn T có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận 02 diện tích đất nhận chuyển nhượng nêu trên (bút lục số 48). Anh T được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận ngày 10-02-2014, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01558/007609.CN.VP; đối với phần đất diện tích 495 m², thửa số 230, tờ bản đồ số 22; tọa lạc tại ấp C (nay là ấp P), xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh (bút lục số 133) và kết quả đo đạc thực tế thì diện tích đất của anh T đúng với diện tích nêu trên, đúng ranh bản đồ địa chính.

[2.2.2] Các tình tiết, sự kiện nêu trên đều được anh Trần Văn T, bà Trần Thị T2 thừa nhận; nên là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những tình tiết sự kiện này đã chứng minh được rằng: Thửa đất số 92, tờ bản đồ số 22, diện tích 495 m²; có phía Đông giáp đường N – Tà Xia dài 5 m; điều này phù hợp với Quyết định số 148/2005/QĐ-UB ngày 18 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh về việc thu hồi và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo lưới cho bà Trần Thị T2 (bút lục số 85), có nội dung “Cấp lại giấy CN.QSDĐ cho bà Trần Thị T2 hiện ngụ tại: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Diện tích sử dụng: 495 m², thửa số 92, thuộc tờ bản đồ số 22. Đất toạ lạc tại: P”. Do đó, việc bà T2 và anh T đều cho rằng anh T có nhận chuyển nhượng của bà T2 thêm 2 m ngang giáp đường có diện tích 120 m² đang tranh chấp là không có căn cứ. Bởi lẽ, diện tích đất này bà T2 không được Nhà nước công nhận, kể từ thời điểm được cấp đổi Giấy chứng nhận ngày 23-3-2005 bà không thắc mắc hay khiếu nại; đến thời điểm anh T được cấp Giấy chứng nhận ngày 10- 02- 2014 cũng không thắc mắc hay khiếu nại; bà T2 và anh T đều cho rằng đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình nhưng không ai thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký; không ai chứng minh được quyền quản lý đất tranh chấp. Ngoài ra, kết quả xem xét thẩm định tại chổ thể hiện diện tích 120 m² không có số thửa, hiện trạng là con đường và Ủy ban nhân dân xã P đã ban hành Thông báo số 720/TB-UBND ngày 18-12-2019 về việc phục hồi đường tổ ấp C, xã P đường vào đất nhà bà Nguyễn Thị Bích K (bút lục số 118), có nội dung: “UBND xã đề nghị ông Trần Văn T sử dụng đất đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời trả lại hiện trạng con đường cũ và tự di dời trụ xi măng cắm trên đất (nếu có). Quá thời gian kể từ ngày lập biên bản làm việc với bà Trần Thị N nếu không trả lại hiện trạng con đường mòn cũ thì UBND xã P lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý theo quy định của pháp luật” (bút lục số 118).

[2.3] Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng nguyên đơn khởi kiện có nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự; nhưng không chứng minh được mình là người được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp đối với phần đất tranh chấp; nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn T nên giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh T không được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự; các Điều 170, 203 Luật Đất đai; các Điều 147, 157, 164 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T đối với chị Nguyễn Thị Bích K về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 120 m², không có số thửa, tờ bản đồ số 34; toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận:
    • - Phía Đông giáp thửa đất số 210 dài 0,80 m;
    • - Phía Tây giáp đường N – Tà Xia dài 1,61 m;
    • - Phía Nam giáp thửa đất số 230 của anh Trần Văn T dài 100,45 m;
    • - Phía Bắc giáp hiện trạng con đường không có số thửa dài 100,73 m.

    (Có sơ đồ đo đạc kèm theo).

  2. Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Anh Trần Văn T phải chịu 5.232.000 (năm triệu hai trăm ba mươi hai ngàn) đồng, ghi nhận đã nộp và chi phí xong.
  3. Về án phí:
    • 4.1. Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0018137 ngày 17-01-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; ghi nhận anh T đã nộp xong.
    • 4.2. Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm; ghi nhận anh T đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo tại Biên lai thu số 0008928, ngày 07- 03- 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; được khấu trừ; anh T nộp xong án phí phúc thẩm.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND. TTN;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng KTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/DS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 263/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh Thích yêu cầu chị Khanh và gia đình hiện đang lấn chiếm trả lại diện tích 120 m2 để anh đủ diện tích đất là 615 m2 có kích thước mặt tiền ngang 7 m (gồm 02 đoạn 5,39 m + 1,61 m) dài hết đất và mặt hậu ngang 5,8 m (gồm hai đoạn 5 m + 0,8 m).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger