Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2023

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 240/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023, về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 218/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1992.

    Địa chỉ: Thôn 6, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1988.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 5, thôn Th, xã L, huyện Th, tỉnh Hải Dương. Hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Vắng mặt.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Phạm Thị D trình bày: Chị và anh Phạm Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Th, tỉnh Hải Dương vào ngày 13/7/2020. Sau khi kết hôn anh chị cùng sinh sống và làm việc tại Bắc Ninh, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc. Đến tháng 09/2020, anh D chuyển về gia đình tại thôn Th, xã L, huyện Th để sinh sống. Tháng 01/2021, anh D đi lao động tại Nhật Bản, trong thời gian ở nước ngoài vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tin tưởng nhau, anh D không có trách nhiệm với gia đình, mỗi lần liên lạc vợ chồng lại bất đồng quan điểm và xảy ra cãi nhau. Do cuộc sống chung không có hạnh phúc nên tháng 6/2022 chị chuyển về V, V, Thanh Hóa sinh sống, vợ chồng mỗi người

một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của ông Phạm Văn Kh, bà Nguyễn Thị T(bố mẹ đẻ anh D) thể hiện: Anh D hiện đang sinh sống tại Nhật Bản, địa chỉ cụ thể thì ông bà không biết, nhưng anh D thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh D biết. Vợ chồng chị D, anh D xảy ra mâu thuẫn trong thời gian anh D ở nước ngoài, ông bà đã nhiều lần khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Chị D đã chuyển về nhà ngoại sinh sống, anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị D có đơn ly hôn, ông bà đề nghị Tòa án căn cứ nguyện vọng của anh chị và quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, ông bà đã thông báo cho anh D biết. Anh D không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với ông bà qua điện thoại và xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý ly hôn. Về con chung, tài sản chung không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án xác minh tại địa phương nơi chị D, anh D đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Chị D và anh D có đăng ký kết hôn hợp pháp. Thông qua nắm bắt thông tin từ gia đình thì anh chị mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau, thời gian gần đây chị D đã chuyển về Thanh Hóa sinh sống, vợ chồng mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Chị D có đơn ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự trong vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị D vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Anh Phạm Văn D vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bị đơn giấu địa chỉ. Về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật HN&GĐ, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Phạm Văn D; Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

  1. Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Văn D có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại đội 5, thôn Th, xã L, huyện Th, tỉnh Hải Dương, hiện đang lao động tại Nhật Bản, không rõ địa chỉ cụ thể. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị D và gia đình ông Kh, bà T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh D ở nước ngoài. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, gia đình ông Kh, bà T vẫn thường xuyên liên lạc với anh D nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho gia đình để thông báo cho anh D biết việc chị D đề nghị giải quyết ly hôn và các thủ tục tố tụng khác. Gia đình đã nhận các văn bản tố tụng và đã thông báo cho anh D biết. Tại phiên tòa, anh D vắng mặt lần thứ hai, chị D có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

  2. Về nội D:

    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Phạm Văn D kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Th, tỉnh Hải Dương ngày 13/7/2020, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và anh chị mỗi người ở một nơi nên không có sự tin tưởng nhau. Anh Phạm Văn D không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh D cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị D và anh Phạm Văn D đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Phạm Thị D ly hôn anh Phạm Văn D là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

    2. Về con chung: Chị Phạm Thị D và anh Phạm Văn D không có con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

    3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị D và anh D không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).

  3. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự (về hôn nhân gia đình) sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị D ly hôn anh Phạm Văn D.

  2. Về án phí: Chị Phạm Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0000769 ngày 01/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

  3. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Anh Phạm Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã L, huyện Th, tỉnh Hải Dương (để ghi sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Minh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 263/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị D có đơn khởi kiện ly hôn anh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger