TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 262/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27-12-2023
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Trường;
- Ông Lê Ngọc Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 27/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số ...../2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phan Quốc K, sinh năm 1992;
- Địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Q, sinh năm 1995;
- Địa chỉ: Thôn M, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt lần 02 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Phan Quốc K trình bày:
Về hôn nhân: Vợ chồng ông kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 05/5/2014, được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Phan Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/8/2014 và Phan Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 08/3/2018, hiện nay cháu Đ đang được ông nuôi dưỡng ổn định, còn cháu Đ1 đang ở với bà Q. Ông làm nghề tài xế, thu nhập bình quân 12.000.000 đồng/tháng. Đến cuối năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà Q dẫn 02 con về sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở xã Â, huyện H. Sau đó, khoảng tầm 06 tháng sau, bà Q lại dẫn cháu Đ vô lại nhà ông, nhưng chỉ để con trước cửa nhà sau đó bà Q đi về, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Ông có gọi cho bà Q nhiều lần, nhưng bà Q thỉnh thoảng mới nghe điện thoại của ông. Thời gian trước ông hay gửi tiền cho bà Q để cấp dưỡng nuôi cháu Đ1, nhưng sau đó thì ông không gửi nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã kéo dài, tính cách không hợp. Cả hai đã ngồi lại để hòa giải cứu vãn cuộc hôn nhân nhưng không thành. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích Q.
Về con chung: Ông yêu cầu nuôi con tên Phan Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/8/2014; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; giao con tên Phan Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 08/3/2018; ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà Nguyễn Thị Bích Q không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177; 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bà Q không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng ông Phan Quốc K và bà Nguyễn Thị Bích Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Phan Quốc K được ly hôn bà Nguyễn Thị Bích Q.
Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Phan Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/8/2014 cho ông Phan Quốc K tiếp tục nuôi dưỡng; giao con tên Phan Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 08/3/2018 cho bà Nguyễn Thị Bích Q tiếp tục nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Phan Quốc K có đơn yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Bích Q. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Q có đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của ông Phan Quốc K; bà Nguyễn Thị Bích Q được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K, bà Q.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Quốc K và bà Nguyễn Thị Bích Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 05/5/2014 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Theo ông K trình bày: Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ cuối năm 2019, bà Q dẫn 02 con về sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở xã Â, huyện H. Sau đó, khoảng tầm 06 tháng sau, bà Q lại dẫn cháu Đ vô lại nhà ông, nhưng chỉ để con trước cửa nhà sau đó bà Q đi về, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Ông có gọi cho bà Q nhiều lần, nhưng bà Q thỉnh thoảng mới nghe điện thoại. Thời gian trước ông hay gửi tiền cho bà Q để cấp dưỡng nuôi cháu Đ1, nhưng sau đó thì không gửi nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã kéo dài, tính cách không hợp.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Q: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành các thủ tục thông báo thụ lý và thông báo các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải hợp lệ, nhưng tất cả các buổi làm việc tại Tòa án bà Q đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, bà Q cũng không có mặt, điều này chứng tỏ bà cũng không muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân của ông bà.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng ông Phan Quốc K và bà Nguyễn Thị Bích Q mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Ông Phan Quốc K và bà Nguyễn Thị Bích Q có 02 con chung tên Phan Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/8/2014 và Phan Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 08/3/2018. Cháu Đ hiện nay đang được ông K nuôi dưỡng ổn định, còn cháu Đ1 đang ở với bà Q. Tại tòa, ông K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/10/2023, cháu Đ cũng có nguyện vọng ở với ông K. Xét thấy, để ổn định và thuận tiện cho việc sinh hoạt, chăm sóc, nuôi dưỡng các con được tốt nhất cần giao con Phan Nguyễn Quốc Đ cho ông Phan Quốc K tiếp tục nuôi dưỡng; giao con Phan Nguyễn Quốc Đ1, bà Nguyễn Thị Bích Q tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phan Quốc K không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phan Quốc K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Ông Phan Quốc K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/8/2014 cho ông Phan Quốc K tiếp tục nuôi dưỡng; giao con tên Phan Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 08/3/2018 cho bà Nguyễn Thị Bích Q tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, ông Phan Quốc K phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0006631, ngày 23/10/2023 (Lê Thị Đ2 nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Ông Phan Quốc K được ly hôn bà Nguyễn Thị Bích Q.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Việt Nam |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Định;
- - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
- - Các bên đương sự;
- - CC THADS huyện Hoài Ân;
- - UBND xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng;
- - Lưu HSVA, VPTA.
Bản án số 262/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 262/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Phan Quốc Khanh, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp Hòa Thành, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Quyên, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn Mỹ Đức, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
