|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 262/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 270/2023/HNGĐ-TLST ngày 08/6/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2023/QĐ-ST ngày 03 tháng 8 năm 2023, giữa:
-
Nguyên đơn: Anh Lê Quý Đ, sinh ngày 07/11/1984.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 3, thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang lao động: Đài Loan.
Người được anh Đ ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Lê Tiến Đ1, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Số C, ngõ A N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội,
-
Bị đơn : Chị Vũ Thị H, sinh ngày 28/4/1986.
Địa chỉ: Đ, thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang lao động: Đài Loan.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Thế T, sinh năm 1955 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Đ, thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
(Anh Đ, ông T, bà H1 có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt.Chị H vắng mặt không có lý do )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn anh Lê Quý Đ trình bày: Anh và chị H tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 18/8/2008. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung. Đến năm 2021 mâu thuẫn trở lên đỉnh điểm, anh chị không còn liên lạc với nhau. Nay anh xác định tình cảm với chị H không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Anh và chị H có ba con chung là Lê Thị Thùy D, sinh ngày 14/02/2009, Lê Thành T1, sinh ngày 02/01/2013 và Lê Việt A, sinh ngày 06/11/2020. Hiện ba con đang ở cùng ông bà ngoại, ban đầu anh có nguyện vọng được nuôi cả 3 con và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Sau đó anh thay đổi quan điểm. Cụ thể anh đồng ý để chị H nuôi con, anh sẽ cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị H không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Do điều kiện anh không về Việt Nam được nên anh ủy quyền cho anh Lê Tiến Đ1 giao, nhận các văn bản tại Tòa án.
- Theo anh Lê Quý Đ trình bày thì hiện nay chị Vũ Thị H có hộ khẩu thường trú tại: Đ, thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Quá trình làm việc với ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1 là bố mẹ đẻ chị H cho biết chị H hiện đang lao động tại Đài Loan. Địa chỉ của chị H ông bà không cung cấp được, nhưng chị H thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông T, bà H1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị H biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, chị H đã trực tiếp gọi điện thoại và thể hiện quan điểm: Chị xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân, nguyên nhân do anh Đ ngoại tình về hắt hủi vợ con. Nay anh Đ có đơn ly hôn chị không đồng ý, vì các con còn nhỏ. Về con chung: Chị xác định chị và anh Đ có 3 con, hiện các con ở với ông bà ngoại. Trường hợp anh Đ kiên quyết ly hôn, chị xin được nuôi con và yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con một lần cho 3 con mỗi tháng 8.000.000đ đến khi các con trưởng thành. Nếu thỏa thuận được về cấp dưỡng nuôi con chị sẽ đồng ý ly hôn. Trong thời gian chị không ở Việt Nam, chị ủy quyền cho bố mẹ đẻ chị chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đ không có.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1 có quan điểm: Ông bà là bố mẹ đẻ của chị H, trước đây vợ chồng anh Đ, chị H sống hòa thuận, hạnh phúc sinh được 3 con chung. Từ khi chị H về Việt Nam sinh con, anh Đ ở Đài Loan đã ngoại tình, dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Tháng 7/2022 chị H sang Đài Loan lao động nhưng mỗi người sống một nơi. Hiện tại ông bà đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh Đ, chị H là cháu Lê Thị Thùy D, Lê Thành T1, Lê Việt A. Ông bà đồng ý nhận ủy quyền của chị H, trong thời gian chăm sóc các con của anh Đ, chị H ông bà yêu cầu anh Đ phải gửi tiền cấp dưỡng qua số Căn cước công dân [...] mang tên Đặng Thị H1 do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/05/2021.
- Anh Lê Tiến Đ1 là người được anh Đ ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng trình bày: Anh đồng ý nhận ủy quyền của anh Đ. Sau khi nhận văn bản tố tụng anh đã thông tin cho anh Đ biết, anh Đ vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Về con chung anh Đ đồng ý để chị H chăm sóc, nuôi dưỡng 3 con, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật và thực hiện việc cấp dưỡng theo tháng.
- Cháu Lê Thị Thùy D và Lê Thành T1 là con của anh Đ, chị H có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Trong thời gian mẹ không ở Việt Nam, các chau có nguyện vọng được ở với ông bà ngoại.
- Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C thể hiện: Mức bình quân thu nhập của một công dân trên địa bàn xã khoảng 5.700.000đ/tháng/1 người. Mức chi tiêu bình quân của một trẻ nhỏ trên địa bàn xã từ 3.000.000₫ đến 3.500.000đ/tháng. Mức chi tiêu trên có thể thay đổi tùy thuộc vào độ tuổi đến trường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của anh Đ, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh Đ được ly hôn chị H. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thùy D, sinh ngày 14/02/2009, Lê Thành T1, sinh ngày 02/01/2013 và Lê Việt A, sinh ngày 06/11/2020 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu D, cháu T1, cháu Việt A cho ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị H mỗi con là 2.000.000đ/tháng, tổng số tiền anh Đ phải cấp dưỡng cho các con là 6.000.000đ/tháng. Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Lê Quý Đ và chị Vũ Thị H đều có hộ khẩu thường trú tại: Đ, thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Hiện tại anh Đ, chị H đều lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tài liệu anh Đ gửi về Tòa án gồm: Đơn ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị vắng mặt đã được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản mà anh Đ gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của anh Đ.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã yêu cầu gia đình chị H cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình chị H được biết, chị H thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1. Ông T, bà H1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị H biết. Chị H mặc dù không về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn, nhưng thông qua gia đình cũng như việc nói chuyện trực tiếp qua điện thoại, chị H đã thể hiện quan điểm về việc ly hôn. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Chị H có quan điểm ủy quyền cho ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng các con nên Tòa án xác định ông T, bà H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Anh Đ, ông T, bà H1 đều có quan điểm xin được xét xử vắng mặt. Chị H đã được tống đạt các văn bản hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Quý Đ và chị Vũ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 18/8/2008, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên thiếu niềm tin ở nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung. Mặc dù cả hai đều đang lao động tại Đài Loan, nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn chị H. Quá trình giải quyết vụ án, chị H cũng xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hai bên sống ly thân đã lâu nhưng chị không đồng ý ly hôn. Nếu anh Đ và chị thỏa thuận được mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con thì chị sẽ đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy, thực tế cả chị H và anh Đ đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn và không còn quan tâm đến nhau. Bản thân chị H không đồng ý ly hôn chỉ vì không thỏa thuận được về việc cấp dưỡng nuôi con chứ không phải vì muốn vợ chồng đoàn tụ. Do vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ.
- Về con chung: Anh Lê Quý Đ và chị Vũ Thị H có ba con chung là Lê Thị Thùy D, sinh ngày 14/02/2009, Lê Thành T1, sinh ngày 02/01/2013 và Lê Việt A, sinh ngày 06/11/2020. Ly hôn anh Đ và chị H đều thống nhất để chị H nuôi cả 3 con. Xét thực tế, chị H và anh Đ đều ở nước ngoài, cháu D, T1, Việt A ở với ông bà ngoại từ nhỏ và được chăm sóc tốt. Các cháu D, T1 cũng đều có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại. Do đó để ổn định cuộc sống của các cháu, cần tiếp tục giao cháu D, T1, Việt A cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu D, cháu T1, cháu Việt A cho ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1 chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Chị H yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi 3 con là 8.000.000đồng/tháng, đồng thời yêu cầu cấp dưỡng 1 lần. Anh Đ không đồng ý và có quan điểm anh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xem xét về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H Hội đồng xét xử thấy, theo Điều 116 luật Hôn nhân và gia đình quy định “mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng...”. Trong vụ án này anh Đ và chị H không thống nhất được mức cấp dưỡng. Chị H cũng không chứng minh được mức thu nhập của anh Đ. Theo xác minh tại địa phương cho thấy mức sinh hoạt bình quân của các cháu khoảng từ 3.000.000đồng đến 3.500.000đ/1cháu/tháng. Như vậy chi phí cho 3 cháu là từ 9.000.000 đồng đến 10.500.000 đồng/1 tháng. Tuy nhiên, xét thấy đây chỉ là những chi phí cơ bản, thực tế còn phải có những chi phí khác có thể phát sinh trong quá trình nuôi dưỡng các cháu. Đồng thời theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung không chỉ là trách nhiệm của anh Đ mà còn là trách nhiệm của cả chị H. Do vậy anh Đ và chị H mỗi người đều phải chịu ½ mức chi phí nuôi dưỡng con chung. Do chị H là người trực tiếp nuôi con nên cần buộc anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 2.000.000đ/tháng, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi 3 con là 6.000.000đ/tháng là phù hợp.
Chị H yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con 1 lần, bà H1 ông T yêu cầu chuyển tiền cấp dưỡng qua số Căn cước công dân của bà H1 nhưng anh Đ không đồng ý và đề nghị giải quyết theo pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của chị H, bà H1 và ông T
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4].Về án phí: Anh Lê Quý Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Quý Đ được ly hôn chị Vũ Thị H.
-
Về con chung: Giao con chung Lê Thị Thùy D, sinh ngày 14/02/2009, Lê Thành T1, sinh ngày 02/01/2013 và Lê Việt A, sinh ngày 06/11/2020 cho chị Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao các cháu D, T1, Việt A cho ông Vũ Thế T và bà Đặng Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị H mỗi con là 2.000.000đồng/tháng, tổng số tiền anh Đ phải cấp dưỡng là 6.000.000đ/3 con/tháng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi các con tròn 18 tuổi.
Anh Lê Quý Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Kể từ khi chị H có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà anh Đ không thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.
-
Về án phí: Anh Lê Quý Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2022/0000806 ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh Đ còn phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
-
Về quyền kháng cáo: Anh Lê Quý Đ, chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Ông Vũ Thế T, bà Đặng Thị H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 262/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 262/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
