|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 262/2024/HS-ST
Ngày: 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chu Bá Hữu
- Ông Nguyễn Minh Quốc
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 267/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Đào Văn T, sinh năm 1999; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn B, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T1 và bà Nguyễn Thị O; có vợ là Lò Thị X và có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 130/QĐ-XPHC ngày 13/3/2018, Công an huyện Đ xử phạt hành chính 3.500.000 đồng về hành vi Hủy hoại tài sản; Quyết định số 225/QĐ-XPKLBB ngày 25/6/2019, Công an huyện S xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Xâm phạm sức khỏe người khác; Quyết định số 54/QĐ-XPHC ngày 22/01/2020, Công an huyện S xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo đầu thú và tạm giữ ngày 11/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận L. “Có mặt”.
Bị hại: Anh Bùi Hồng L, sinh năm 1989; trú tại: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T6; Trụ sở: Số H, ngõ B, phố V, thôn Đ, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2, chức vụ: Giám đốc. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22h00', ngày 10/07/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm nồng độ cồn theo Kế hoạch số 218/KH-CALB-CSGTTT ngày 11/6/2024 tại khu vực đường T thuộc phường T, L, Hà Nội. Tổ công tác gồm các đồng chí sau: Bùi Hồng L (Tổ trưởng), Nguyễn Văn C, Dương Quang T3, Lê Khắc Q, Phạm Tuấn A, Hoàng Mạnh D. Trong quá trình làm nhiêm vụ các đồng chí trong tổ công tác đứng tại các vị trí như sau: Đồng chí Bùi Hồng L đứng đối diện số nhà B đường T, đồng chí Lê Khắc Q và đồng chí Phạm Tuấn A đứng tại đầu ngõ B đường T, đồng chí Nguyễn Văn C đứng tại khu vực đối diện chợ T7. Quá trình làm nhiệm vụ, các đồng chí trong tổ công tác mặc trang phục cảnh sát giao thông, bên ngoài mặc áo phản quang, đầu đội mũ cối màu vàng đúng điều lệnh. Đến khoảng 22h20' cùng ngày, sau khi ăn và uống bia tại địa chỉ: D B, thuộc phường L, L, Hà Nội, Đào Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA Sorento màu đen mang BKS: 30F – 509.21 trên đường T theo chiều B - C. Trên xe ô tô có T chở theo Lò Thị X (Sinh năm: 2000; nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, S, Hà Nội là vợ của T) đang bế con nhỏ là cháu Đào Thủy T4 (Sinh năm: 2021) ở ghế phụ cạnh ghế lái, phía ghế sau có chị Quàng Thị N (Sinh năm: 2002; nơi thường trú: xã M, M, Điện Biên), chị Lò Thị T5 (Sinh năm: 1998; nơi thường trú: xã M, M, Điện Biên) và anh Kiều Quốc K (Sinh năm:1997; Nơi thường trú: Tổ A, phường S, L, Hà Nội). Khi Đào Văn T đi đến khu vực chợ T7 thì đồng chí Nguyễn Văn C đã ra hiệu lệnh dừng xe để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn. Do khoảng đầu năm 2024, T đã bị Công an tỉnh Đ tạm giữ Giấy phép lái xe ô tô (với lý do vượt quá tốc độ cho phép) và đã sử dụng bia nên T không chấp hành hiệu lệnh đồng thời đánh lái sang bên phải để tránh. Thấy vậy, đồng chí Phạm Tuấn A đang đứng tại vị trí đầu ngõ B tiếp tục ra hiệu lệnh (bật đèn pin nhấp nháy) cho T để dừng xe nhưng T không chấp hành và tiếp tục tăng tốc xe để thông chốt. Sau khi nhận được thông tin qua bộ đàm của đồng chí C và đồng chí Tuấn A, đồng chí Bùi Hồng L đã di chuyển ra giữa đường để ra hiệu lệnh cho T dừng xe để kiểm tra. Khi đó phía trước xe ô tô T điều khiển có một chiếc xe taxi đang di chuyển cùng chiều, T tăng ga điều khiển xe ô tô về phía của đồng chí Bùi Hồng L để bỏ chạy. Không thấy chiếc xe ô tô của T có dấu hiệu dừng lại nên đồng chí Bùi Hồng L đã chủ động nhảy tránh sang bên trái hướng di chuyển của xe ô tô để tránh nhưng vẫn bị bánh trước xe ô tô của T chèn qua chân trái dẫn đến bị thương tích. Sau khi sự việc xảy ra, tổ công tác cùng một số người dân đã hỗ trợ đưa đồng chí Bùi Hồng L đến Bệnh viện để cấp cứu. Sau khi bỏ chạy qua chốt kiểm tra, Đào Văn T tiếp tục điều khiển xe vào ngõ A phố N để tránh sự phát hiện của lực lượng chức năng. Khoảng 10 phút sau Đào Văn T điều khiển xe ô tô chở vợ con T về nhà tại S, Hà Nội. Ngày 11/07/2024, Đào Văn T đã đến công an phường T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Đồ vật, tài liệu thu giữ của Đào Văn T: 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento màu đen, BKS: 30F-509.21; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 540005, Biên số đăng ký 30F-509.21; 01 giấy chứng nhận kiểm định số No: DB 2422168, Biên số đăng ký 30F-509.21 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt TNDS của chủ xe ô tô số [...].
Về thương tích: Đồng chí Bùi Hồng L bị gãy mắt cá trong xương chày và 1/3 dưới xương mác của chân bên trái.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1040/KLTTCT-TTPY của Trung tâm pháp y - Sở Y:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
1. Các kết quả chính:
- 1.1. Vết thương vết mổ mất trong cổ chân trái: 03%
- 1.2. Vết mổ mất ngoài 1/3 dưới cẳng chân trái: 02%
- 1.3. Gãy 1/3 dưới xương mác trái kiểu Đ1 đã mổ kết hợp xương: 06%
- 1.4. Gãy mắt cá trong chân trái đã mổ kết hợp xương: 06%
Trên phim Cộng hưởng từ khớp gối trái ngày 30/7/2024 tại Bệnh viện Đ có hình ảnh dùng đắp - phù tủy xương lồi cầu ngoài xương đùi và bờ trước mâm chày trong, phù nề dây chằng chéo trước, ít dịch khớp gối trái, phù nề nhẹ phần mềm dưới da mặt trước - trong gối trái; Thông qua hồ sơ tài liệu y tế Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận L cung cấp ban đầu không thấy ghi nhận tổn thương vùng gối trái. Ngoài ra, theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với tổn thương này mà đánh giá theo mức độ ảnh hưởng đến vận động khớp gối trái, và đánh giá sau 06 tháng tính từ thời điểm chấn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Bùi Hồng L tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
2.2. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương của anh Bùi Hồng L do vật tày có cạnh gây ra.
Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung khi điều trị ổn định và đã tháo bỏ các phương tiện kết hợp xương.
Ngày 11/9/2024, anh Bùi Hồng L có đơn từ chối giám định bổ sung đối với thương tích mà Đào Văn T đã gây ra.
Tại bản cáo trạng số 245/CT-VKS-LB ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Đào Văn T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T từ 26 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/7/2024.
Về vật chứng và dân sự: Không phải giải quyết.
Ý kiến của người bị hại: Đã nhận tiền bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận L, thành phố Hà Nội; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại; lời khai của người làm chứng; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định thương tích; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 22h20', ngày 10/7/2024 tại khu vực đối diện số nhà B đường T thuộc phường T, L, H. Đào Văn T có hành vi dùng ô tô Kia Sorento màu đen, BKS: 30F – 509.21 gây thương tích cho đồng chí Bùi Hồng L khi đang thi hành công vụ (nhiệm vụ tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm nồng độ cồn các phương tiện lưu thông trên đường). Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của đồng chí L là 16%. Vì vậy, bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền sự. Theo quy định của pháp luật đều đã được xóa. Nhưng điều này thể hiện bị cáo không chịu rèn luyện cải tạo ý thức chấp hành pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu qủa; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3]. Về dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường là 36.000.000 đồng của gia đình bị cáo, không yêu cầu về dân sự nên không phải giải quyết.
[4]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento màu đen, BKS: 30F-509.21 và các giấy tờ kèm theo. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên đăng ký và thuộc sở hữu của Công ty TNHH T6. Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn T2. Ngày 10/7/2024, ông Nguyễn Văn T2 cho cháu là Đào Văn T mượn xe để đi lại và sự việc xảy ra tại phường T, L ông Nguyễn Văn T2 không biết. Tại Kết luận giám định số 5776/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento màu đen đeo BKS: 30F-509.21; Số khung RNYXL51A6JC142605 và số máy G4KEJH737301 là số nguyên thủy. Kết quả tra cứu xe không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe trên cùng các giấy tờ liên quan cho Công ty TNHH T6. Sau khi nhận xe và tài liệu, ông Nguyễn Văn T2 không có ý kiến gì nên không phải xem xét.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2024.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
- - TAND TP. Hà Nội;
- - Sở Tư pháp Hà Nội;
- - Công an, VKSND, THADS q:Long Biên;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Quang |
Bản án số 262/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 262/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
