TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 262/2024/KDTM-PT
Ngày: 27-11-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Bà Lưu Thị Đoan Trang
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 và ngày 27-11-2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2024/TLPT-KDTM ngày 14-10-2024 về tranh chấp “hợp đồng mua bán hàng hoá”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1191/2024/KDTM-ST ngày 26-6-2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5747/2024/QĐ-PT ngày 30-10-2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 17453/2024/QĐ-PT ngày 22-11-2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ
Địa chỉ: 6 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: bà Hoàng Thị L, sinh năm 1971; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản ủy quyền số 05/2024/UQ-ĐT ngày 03-5-2024) (có mặt)
Bị đơn: Công ty Cổ phần L1
Địa chỉ: D H, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Hồng S, là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản ủy quyền số 02/GUQ-LCC3 ngày 08-3-2024) (có mặt)
Người kháng cáo: Công ty Cổ phần L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ có bà Hoàng Thị L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 02-11-2014, Công ty Cổ phần Đ (sau đây viết tắt là Công ty Đ) có ký Hợp đồng kinh tế số 21/2014/HĐKT với Chi nhánh Công ty TNHH MTV L1 - Xí nghiệp X và Dân dụng (hiện nay đổi tên là Công ty Cổ phần L1) về việc mua bán sắt thép. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đ đã 02 lần giao hàng cho Công ty Cổ phần L1 (sau đây viết tắt là Công ty L1) với tổng giá trị là 2.467.748.679 đồng. Từ ngày 18-11-2014 đến ngày 31-01-2019, Công ty L1 đã thanh toán 08 đợt với tổng giá trị là 1.808.304.065 đồng. Theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 28-02-2019, Chi nhánh Công ty TNHH MTV L1 - Xí nghiệp X và Dân dụng (nay là Công ty L1) xác nhận còn nợ Công ty Đ 1.029.891.137 đồng, trong đó nợ gốc là 659.444.614 đồng và nợ lãi là 370.446.523 đồng. Nay Công ty Đ yêu cầu Công ty L1 phải thanh toán nợ gốc còn lại và tiền lãi tạm tính đến ngày 10-5-2023 là 651.076.842 đồng, tổng cộng là 1.310.521.456 đồng, yêu cầu thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Theo bản khai, các văn bản trình bày ý kiến của đại diện bị đơn: Công ty Cổ phần L1 tiền thân là Công ty TNHH MTV L1 chuyển đổi mô hình sang Công ty cổ phần và chính thức hoạt động theo hình thức cổ phần từ ngày 12-3-2019. Theo hồ sơ sổ sách kế toán bàn giao từ mô hình quản lý Công ty TNHH MTV L1 sang Công ty Cổ phần L1 không ghi nhận việc Công ty L1 có ký hợp đồng mua bán sắt thép hay còn nợ tiền với Công ty Đ. Công ty L1 đề nghị gia hạn thời gian để kiểm tra lại hồ sơ, sổ sách.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty L1 3 nhiều lần làm đơn xin hoãn các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1191/2024/KDTM-ST ngày 26-6-2024; Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số 167/2024/QĐ-SCBSBA ngày 23-9-2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ.
- Buộc Công ty Cổ phần L1 phải trả cho Công ty Cổ phần Đ nợ gốc là 659.444.614 đồng và tiền lãi tính đến ngày 25-6-2024 là 710.724.915 đồng, tổng cộng là 1.370.169.529 đồng (một tỷ, ba trăm bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi chín ngàn, năm trăm hai mươi chín), trả một làm ngay khi án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày Nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được thi hành, phía bị đơn không thi hành khoản tiền nêu trên thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm trả.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 17-7-2024, Toà án nhân dân quận Bình Thạnh nhận được Đơn kháng cáo đề ngày 12-7-2024 của Công ty L1, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ Bản án dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại số 1191/2024/KDTM-ST ngày 26-6-2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên toà, các bên đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, Bị đơn không rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi theo Hợp đồng kinh tế số 21/2014/HĐKT ngày 02-11-2014; tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; các bên thoả thuận nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết tại Toà án Thành phố Hồ Chí Minh nơi có trụ sở của Nguyên đơn, do đó Toà án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm ngày 26-6-2024 và nhận được Bản án sơ thẩm ngày 09-7-2024, Đơn kháng cáo của Bị đơn gửi đi ngày 12-7-2024, xét thấy kháng cáo còn trong thời hạn luật định và hợp lệ, do đó Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Xét kháng cáo của Bị đơn; Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Căn cứ các tài liệu chứng cứ và trình bày của các đương sự có đủ cơ sở xác định: Nguyên đơn và Bị đơn có ký kết Hợp đồng kinh tế số 21/2014/HĐKT về việc mua bán sắt thép. Quá trình thực hiện hợp đồng, Nguyên đơn đã 02 lần giao hàng cho Bị đơn với tổng giá trị là 2.467.748.679 đồng. Từ ngày 18-11-2014 đến ngày 31-01-2019, Bị đơn đã thanh toán tiền 08 đợt với tổng giá trị là 1.808.304.065 đồng. Căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 28-02-2019, Biên bản đối chiếu và cấn trừ công nợ ngày 20-5-2022, Biên bản giao nhận hàng, Xác nhận đơn hàng, Hóa đơn giá trị gia tăng... thể hiện Bị đơn còn nợ tiền mua hàng của Nguyên đơn là 659.444.614 đồng. Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi chậm trả; cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với thoả thuận của các bên tại Hợp đồng kinh tế số 21/2014/HĐKT và Điều 306 Luật Thương mại.
- Về mức lãi suất áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả lãi theo mức lãi suất 9,7%/ năm, tính đến ngày 25-6-2024 là 710.724.915 đồng. Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại 2005; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Bị đơn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Căn cứ Văn bản số 1261/NHNoTTSG-PC ngày 19-6-2024 của Ngân hàng N – Chi nhánh T, Văn bản số 3017/CNTPHCM-TH ngày 14-6-2024 của Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh Thành phố H và Văn bản số 5282/HCM-TH ngày 20-5-2024 của Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh Thành phố H thì lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường đối với khoản vay trung dài hạn là 15,05%/năm; cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn phải chịu tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất 9,7%/năm là có lợi cho Bị đơn nên chấp nhận.
- Xét Bị đơn kháng cáo không đồng ý trả nợ gốc, lãi cho Nguyên đơn với lý do hồ sơ bàn giao từ mô hình quản lý công ty TNHH MTV L1 sang Công ty Cổ phần L1 không ghi nhận cụ thể công nợ phải trả cho Nguyên đơn cũng như Bị đơn chưa làm việc trực tiếp với chỉ huy trưởng công trình có liên quan đến công nợ giữa Nguyên đơn và Bị đơn. Xét thấy, những vấn đề trên bị đơn đã trình bày tại cấp sơ thẩm và được Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét, đánh giá. Bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác. Đồng thời, theo công văn số 25/CV-LCC3.3 ngày 09-7-2020 thể hiện Công ty Cổ phần L1 xác nhận nợ gốc đối với Nguyên đơn là 659.444.641 đồng và đề nghị kế hoạch thanh toán nợ cho Nguyên đơn giãn thời gian do Công ty đang khó khăn; do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Bị đơn.
- Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn phải chịu án phí 2.000.000 đồng theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần L1. Giữ nguyên Bản án số 1191/2024/KDTM-ST ngày 26-6-2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số 167/2024/QĐ-SCBSBA ngày 23-9-2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 306 Luật Thương mại; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án; Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ.
Buộc Công ty Cổ phần L1 phải trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền nợ gốc là 659.444.614 (sáu trăm năm mươi chín triệu, bốn trăm bốn mươi bốn ngàn, sáu trăm mười bốn) đồng và tiền lãi tính đến ngày 25-6-2024 là 710.724.915 (bảy trăm mười triệu, bảy trăm hai mươi bốn ngàn, chin trăm mười lăm) đồng, tổng cộng là 1.370.169.529 (một tỷ, ba trăm bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi chín ngàn, năm trăm hai mươi chín) đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 26-6-2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
- Về án phí kinh doanh thương mại:
Công ty Cổ phần L1 phải nộp án phí sơ thẩm 53.105.086 (năm mươi ba triệu, một trăm lẻ năm ngàn, không trăm tám mươi sáu) đồng; và án phí phúc thẩm 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên lai thu số 0028813 ngày 23-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Công ty Cổ phần L1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí là 22.874.000 (hai mươi hai triệu, tám trăm bảy mươi bốn ngàn) đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000071 ngày 14-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./ .
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Quỳnh Trâm |
Bản án số 262/2024/KDTM-PT ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Số bản án: 262/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
