TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 262/2024/HS-ST. Ngày: 07-11-2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp.
Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tứ – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại Nhà văn hóa ấp T2, huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 290/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lý Hoàng Q; sinh năm 1996 tại tỉnh Cà Mau. Tên gọi khác: Út L. Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi sinh sống: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Thành T và bà Huỳnh Việt H; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 2, có chồng tên Nguyễn Văn B (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm: 2015; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị bắt từ ngày 23/6/2024 đến ngày 02/7/2024 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
2. Nguyễn Trung H1; sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai. Tên gọi khác: Nhí. Nơi đăng ký thường trú: Số A, Tổ 23, Khu C, ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị V; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2, chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 29/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 84/2015/HSST, ngày 07/01/2016 chấp hành xong bản án.
- Ngày 26/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 130/2016/HSST, đến ngày 06/6/2017 chấp hành xong bản án.
- Ngày 29/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 106/2018/HSST, ngày 10/3/2020 chấp hành xong bản án.
Bị bắt từ ngày 23/6/2024 đến ngày 02/7/2024 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 22/6/2024, Nguyễn Trung H1 điều khiển mô tô biển số 60Y1 – 5717 chở Lý Hoàng Q từ phòng trọ của Q ở T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai đến khu vực phường C, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người tên T1 (chưa rõ nhân thân) để mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá là 500.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, H1 chở Q về lại phòng trọ của Q để ngủ. Đến 14 giờ ngày 23/6/2024, H1 điều khiển xe mô tô biển số 60Y1 – 5717 chở Q vào quán C thuộc ấp B, xã P, huyện N để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định ma túy số: 1313/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong giám định là ma túy, có khối lượng: 0,270 gam loại: Methamphetamine.
Vật chứng vụ án: 01 (một) gói nylon dạng túi zip có kích thước 02 x 2,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, 01(một) túi xách màu đen đã qua sử dụng, 01 (một) xe mô tô biển số 60Y1 – 5717.
Tại Cáo trạng số 255/CT-VKSNT ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo Lý Hoàng Q, Nguyễn Trung H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Lý Hoàng Q từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 04 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 1313/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 60Y1 – 5717 do bà Huỳnh Việt H là chủ sở hữu, bà H không biết Q mượn để dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.
Tại phiên Tòa các bị cáo không phát biểu tranh luận. Các bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép 0,270 gam ma túy loại: Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của các bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã đủ yếu tố kết luận bị cáo Lý Hoàng Q, Nguyễn Trung H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý độc quyền các chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo H1 là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhiều lần cho thấy bị cáo coi thường pháp luật nên mức hình phạt của bị cáo sẽ cao hơn bị cáo Q.
[5] Về biện pháp tư pháp: Cần tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật sau giám định niêm phong số 1313/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 60Y1 – 5717 do bà Huỳnh Việt H là chủ sở hữu, bà H không biết Q mượn để dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trả lại cho bà H là có căn cứ.
Đối với người thanh niên tên T1 có hành vi bán ma túy cho Q nhưng chưa xác định rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lý Hoàng Q, Nguyễn Trung H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lý Hoàng Q 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2024.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật sau giám định niêm phong số 1313/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng.
(Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024).
3. Về án phí: Các bị cáo Lý Hoàng Q, Nguyễn Trung H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lý Hoàng Q, Nguyễn Trung H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Tình |
Bản án số 262/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 262/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Hoàng Quyên + ĐP
