TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 262/2024/HNGĐ-ST
Ngày : 30-9-2024
V/v Ly hôn, nuôi con, tranh chấp
chia tài sản và yêu cầu trả nợ chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Trị
Ông Ngô Văn Nghị
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con, tranh chấp chia tài sản và yêu cầu trả nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QÐST-HNGĐ ngày 9 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn C, B, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn C, B, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1962
Địa chỉ: Xóm L, thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có đơn xin xử vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn T1 - Sinh năm 1986
Bà Văn Thị C - Sinh năm 1988
Địa chỉ: Xóm R, thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có đơn xin xử vắng mặt).
3. Ông Nguyễn Thanh M - Sinh năm 1962 (có đơn xin xử vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị Thu T2 - Sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: Xóm C, thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thành T quen biết nhau do tự nguyện và tự tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục, ông bà đăng ký Giấy chứng nhận kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 20/8/2009. Sau khi cưới hai vợ chồng sống chung với cha mẹ ông T, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc cho đến tháng 02/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên kình cãi, không có tiếng nói chung, cờ bạc, nợ nần nên hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, nên từ cuối năm 2023 đến nay bà bỏ về nhà cha mẹ bà ở thôn C, B, huyện T, tỉnh Bình Định sống cho đến nay, vợ chồng cắt đứt liên lạc từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Quỳnh N, (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/4/2009 và cháu Nguyễn Duy T3, (giới tính: Nam), sinh ngày 27/12/2016 hiện các cháu đang ở với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Các cháu đã trên 07 tuổi nguyện vọng các cháu muốn ở với ai quyền của các cháu. Nếu các con ở với bà thì bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng có nhà đất diện tích 100m², diện tích xây dựng 70m², số tầng 01 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng tại thửa số 972, tờ bản đồ 30, tọa lạc tại thôn C, B, T, nguồn gốc đất do cha mẹ ông T cho vào năm 2009, nhà do vợ chồng xây dựng có mượn vàng của cha mẹ bà. Nay ly hôn bà yêu cầu bán để trả nợ hoặc ai lấy nhà thì thối tiền cho bên còn lại. Bà thống nhất giá trị ngôi nhà 1.050.000.000 đồng theo biên bản định giá ngày 06/8/2024.
- Về nợ chung: Vợ chồng có nợ của cha mẹ bà là ông Nguyễn Thanh M và bà Nguyễn Thị Thu T2: 05 cây vàng (24K) và 100.000.000 đồng.
- Nợ tiền vật tư của bà Nguyễn Thị H số tiền 246.000.000 đồng.
- Nợ vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C số tiền 350.000.000 đồng.
Khi ly hôn bà yêu cầu chia ½ khoản nợ này. Ngoài ra không còn khoản nợ nào khác.
Trong bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất như lời trình bày của bà L về thời gian tìm hiểu, thời gian kết hôn và thời gian đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp thường xuyên cãi vã nên tình cảm vợ chồng không còn. Nay bà L yêu cầu ly hôn ông thì ông cũng đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Quỳnh N (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/4/2009 và cháu Nguyễn Duy T3, (giới tính: Nam), sinh ngày 27/12/2016 hiện các cháu đang ở với bà L, khi ly hôn các con có nguyện vọng ở với mẹ thì ông cũng thống nhất để bà L tiếp tục nuôi dưỡng các con. Bà L không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con thì ông đồng ý.
- Về tài sản chung: Vợ chồng có nhà đất diện tích 100m², diện tích xây dựng 70m², số tầng 01, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng tại thửa số 972, tờ bản đồ 30, tọa lạc tại thôn C, B, T. Ly hôn ông đồng ý nhận nhà và thối tiền cho bà L, giá trị ngôi nhà 1.050.000.000 đồng theo biên bản định giá ngày 06/8/2024.
- Về nợ chung: Vợ chồng có nợ của cha mẹ bà L là ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2: 05 cây vàng (24K) và 100.000.000 đồng.
- Nợ tiền vật tư của bà Nguyễn Thị H số tiền 246.000.000 đồng.
- Nợ vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C 350.000.000 đồng.
Khi ly hôn ông yêu cầu chia ½ khoản nợ, vợ chồng cùng có trách nhiệm trả. Ngoài ra không còn khoản nợ nào khác.
Tại Biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà Nguyễn Thị L là cháu gọi bà bằng dì ruột, vợ chồng L, T hiện còn nợ bà số tiền 246.000.000 đồng là khoản tiền mua vật tư nông nghiệp phân bón, thuốc trừ sâu, ông Trung đại D ký giấy nhận nợ ngày 20/11/2022. Nay vợ chồng L, T ly hôn nên yêu cầu vợ chồng L, T có nghĩa vụ trả hết số nợ trên cho bà, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra không còn số nợ nào khác và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 trình bày: Bà Nguyễn Thị L là con gái, ông Nguyễn Thành T là con rễ của ông bà, vợ chồng L, T có mượn của vợ chồng ông bà số vàng 05 cây vàng (9999 loại SJC) và 100.000.000 đồng, trong đó 04 cây vàng (9999 loại SJC) vợ chồng L, T mượn xây nhà vào năm 2009; 01 cây vàng (9999 loại SJC) mượn để mua máy cày làm dưa vào năm 2019 và mượn 100.000.000 đồng để trả nợ cho Quỹ tín dụng vào năm 2021, có viết giấy nợ, ông T ký chốt tất cả khoản vàng, tiền mà vợ chồng L, T đã mượn của vợ chồng ông bà. Hiện số nợ này vợ chồng L, T chưa trả. Nay vợ chồng L, T ly hôn nên yêu cầu vợ chồng L, T có nghĩa vụ trả hết số nợ trên cho ông bà, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra không còn số nợ nào khác và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C trình bày: Ông Nguyễn Thành T là em ruột ông T1, Nguyễn Thị L là em dâu vợ chồng L, T có mượn của vợ chồng ông số tiền 350.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng vì lúc đó ngân hàng yêu cầu phát mãi ngôi nhà của T đang thế chấp. Vợ chồng L, T có viết giấy nợ năm 2023, hiện số nợ này chưa trả. Nay vợ chồng L, T ly hôn nên yêu cầu vợ chồng L, T có nghĩa vụ trả hết số nợ trên cho ông bà, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra không còn số nợ nào khác và không có yêu cầu gì thêm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các bên đương sự đều thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 và 81, 82, 83, 84, 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 466, 469 của Bộ luật Dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Quỳnh N, (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/4/2009 và cháu Nguyễn Duy T3, (giới tính: Nam), sinh ngày 27/12/2016 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi vì bà L không yêu cầu. Về tài sản chung: Giao ngôi nhà và đất có diện tích 100m², diện tích xây dựng 70m², số tầng 01, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị L tại số thửa 972, tờ bản đồ 30, tọa lạc tại thôn C, B, T, Bình Định cho ông T sở hữu sử dụng sau khi có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gồm: ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền 477.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị H 246.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C 350.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L phải trả cho ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền 23.000.000 đồng.
Án phí hôn nhân gia đình, án phí cấp dưỡng nuôi con và án phí dân sự sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H; ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C; ông Nguyễn Thanh M vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên theo quy định tại Điều 227, 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thành T kết hôn vào ngày 20/8/2009 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký chứng nhận kết hôn tại có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Bình Định Lai nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Sau kết hôn vợ chồng sống chung với cha mẹ ông T, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc cho đến tháng 02/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình chung sống cùng nhau hai bên bất đồng về nhiều vấn đề, xảy ra tranh cãi, tình cảm phai nhạt dần nguyên nhân mâu thuẫn tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên kình cãi, không có tiếng nói chung, cờ bạc, nợ nần nên hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, từ cuối năm 2023 bà L đã bỏ về nhà cha mẹ bà cũng ở xã B, T sinh sống đến nay nên vợ chồng ly thân, không còn ai quan tâm đến nhau, do đó bà L yêu cầu được ly hôn ông T, ông T cũng đồng ý ly hôn bà L. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà L và ông T không thể nào chung sống với nhau được, cả hai không có thiện chí hàn gắn, việc bà L và ông T thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà L và ông T.
[3] Về con chung: Bà L và ông T có 02 con chung tên: Nguyễn Quỳnh N, (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/4/2009 và cháu Nguyễn Duy T3, (giới tính: Nam), sinh ngày 27/12/2016, sức khỏe hai cháu bình thường, hiện các cháu đang ở với bà L, ly hôn các cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ là bà L, ông T cũng đồng ý hai con do bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của con, HĐXX nghĩ nên giao hai cháu N và T3 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, bà L nhận trách nhiệm nuôi con nhưng không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà L được HĐXX chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Vợ chồng bà L và ông T đều thống nhất có ngôi nhà và đất diện tích 100m², diện tích xây dựng 70m², số tầng 01, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại số thửa 972, tờ bản đồ 30, tọa lạc tại thôn C, B, T, Bình Định đứng tên Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị L, hiện nhà đất trên do ông T đang quản lý sử dụng. Ông T và bà L đều thống nhất nhà đất trên có giá 1.050.000.000 đồng. Ly hôn ông T và bà L đều thống nhất nhà và đất trên giao cho ông T được sở hữu sử dụng sau khi ông T có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chung của vợ chồng.
[5] Về nợ chung của vợ chồng:
Bà L và ông T đều thống nhất thừa nhận vợ chồng còn nợ ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 05 cây vàng (24K 9999) và 100.000.000 đồng; Nợ bà Nguyễn Thị H số tiền 246.000.000 đồng; Nợ vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C 350.000.000 đồng và đồng ý mỗi người có trách nhiệm trả ½ số nợ. Nhưng ông T cho rằng vợ chồng chỉ nợ của cha mẹ bà L (ông M, bà T2) 03 cây vàng (24K 9999) và 100.000.000 đồng. Còn 02 cây vàng (24K 9999) là ông M, bà T2 hứa cho vợ chồng ông để xây nhà vì lúc đó phía gia đình ông đã cho đất để 02 vợ chồng ông xây nhà. Xét thấy lời khai của ông T là không có căn cứ vì không được ông M, bà T2 thừa nhận có cho vợ chồng L, T 02 lượng vàng 24K để làm nhà, ông T không có giấy tờ nào chứng minh, trong khi đó ông T có ký giấy nợ và tại phiên tòa ông T thừa nhận giấy nợ là do ông viết và ký có mượn ông M và bà T2 số vàng là 04 cây vàng 4 số 9999 để làm nhà và 1 cây vàng 4 số 9999 để mua máy cày nhưng ông yêu cầu HĐXX xem xét, mục đích ông viết và ký giấy nợ vào năm 2023 là để vợ chồng đoàn tụ cùng lo làm ăn, chăm lo cho con. Xét yêu cầu của ông T là không có cơ sở để chấp nhận. Do vậy khoản nợ của ông M, bà T2 mà ông T, bà L còn nợ là 05 lượng vàng (24K 9999).
Tại phiên tòa bà L, ông T và bà T2 đều thống nhất vàng quy ra tiền, trị giá vàng 01 lượng là 80.000.000 đồng. 05 lượng vàng (24K 9999) là 400.000.000 đồng. Như vậy, tổng số nợ chung của bà L, ông T còn nợ là 1.096.000.000 đồng (Bà H 246.000.000 đồng; ông T1, bà C: 350.000.000 đồng; ông M, bà T2: 500.000.000 đồng), nên bà L và ông T phải có trách nhiệm mỗi người trả ½ số nợ này.
Tại phiên tòa bà L, ông T đều thống nhất giao ngôi nhà và đất cho ông T để bán trả nợ chung của vợ chồng, vì vậy để thuận tiện và đảm bảo cho việc trả nợ và thi hành án, HĐXX xét thấy nên giao ngôi nhà và đất có diện tích 100m², diện tích xây dựng 70m², số tầng 01, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01184 ngày 04/6/2012 đứng tên Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị L tại thửa số 972, tờ bản đồ 30, tọa lạc tại thôn C, B, T, Bình Định cho ông Nguyễn Thành T được sở hữu sử dụng và giao số nợ chung của vợ chồng để ông T đứng ra trả nợ sau được trừ vào số tài sản chung của vợ chồng là 1.050.000.000 đồng giá trị của ngôi nhà. Cụ thể: Trả cho bà H 246.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C 350.000.000 đồng; ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 500.000.000 đồng. Như vậy tổng số nợ là 1.096.000.000 đồng, số tài sản chung của vợ chồng là 1.050.000.000 đồng (1.096.000.000₫ – 1.050.000.000₫ = 46.000.000₫) nên số nợ còn phải trả thêm ngoài số tiền trừ vào tài sản chung của vợ chồng là 46.000.000 đồng. Vì số nợ nhiều hơn số tài sản mà vợ chồng ông T, bà L có nên ông T, bà L còn phải có nghĩa vụ trả nợ thêm cho ông M, bà T2 mỗi người là 23.000.000 đồng.
Do đó buộc ông T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền là 454.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị H số tiền 246.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C số tiền 350.000.000 đồng. Buộc bà L và ông T mỗi người phải trả cho ông M, bà T2 số tiền 23.000.000 đồng. Tổng cộng ông T phải trả cho ông M, bà T2 số tiền là 477.000.000 đồng.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2, 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà L và ông T mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm và 25.000.000 đồng án phí chia tài sản chung của vợ chồng [20.000.000₫ + 5.000.000₫ (125.000.000 x 4% = 5.000.000₫) = 25.000.000₫].
Tổng cộng bà L phải chịu là 25.150.000 đồng (150.000đ + 25.000.000₫), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.0000 đồng theo biên lai số 0003580 ngày 15/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn nên bà L còn phải nộp tiếp là 24.850.000 đồng.
Ông T phải chịu 25.150.000 đồng (150.000đ + 25.000.000₫).
[7] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản số tiền 5.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thành T mỗi người phải chịu 2.500.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L đã nộp tạm ứng số tiền 5.000.000 đồng nên ông T phải trả lại cho bà L số tiền 2.500.000 đồng.
[8] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 33, 38, 55, 59, 81, 82, 83 và 84 và Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 466, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thành T.
- Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Quỳnh N, (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/4/2009 và cháu Nguyễn Duy T3, (giới tính: Nam), sinh ngày 27/12/2016 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà L không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ chung:
3.1. Giao ngôi nhà và đất có diện tích 100m², diện tích xây dựng 70m², số tầng 01 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01184 ngày 04/6/2012 đứng tên Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị L tại thửa số 972, tờ bản đồ 30, tọa lạc tại thôn C, B, T, Bình Định cho ông Nguyễn Thành T được sở hữu sử dụng sau khi có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chung gồm:
- - Trả cho ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền 477.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi bảy triệu đồng).
- - Trả cho bà Nguyễn Thị H 246.000.000 (Hai trăm bốn mươi sáu triệu đồng).
- - Trả cho ông Nguyễn Văn T1, bà Văn Thị C 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng).
3.2. Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho ông Nguyễn Thanh M, bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng).
- Về án phí:
4.1. Bà Nguyễn Thị L phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 25.000.000 đồng án phí chia tài sản. Tổng cộng bà L phải chịu là 25.150.000 đồng, được trừ 300.0000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003580 ngày 15/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn nên bà L còn phải nộp tiếp là 24.850.000 đồng.
4.2. Ông Nguyễn Thành T phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 25.000.000 đồng án phí chia tài sản, tổng cộng phải nộp là 25.150.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Về quyền nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trí |
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 262/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, nuôi con, tranh chấp chia tài sản và yêu cầu trả nợ chung.
- Số bản án: 262/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con, tranh chấp chia tài sản và yêu cầu trả nợ chung.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh T vì mâu thuẫn gia đình
