|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 262/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/9/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Được;
- Ông Trương Phước Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân Hện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Long – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 475/2024/TLST-HNGĐ về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 405/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1995; địa chỉ: Khóm M, thị trấn L, huyện C, tỉnh An Giang (Có yêu cầu xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Phạm Minh C, sinh năm 1994; địa chỉ: Khóm M, thị trấn L, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ D trình bày: Vợ chồng bà tự tìm hiểu đi đến kết hôn năm 2012, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chồng thường hay uống rượu nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, ông C đánh bà D nên vợ chồng không còn sống chung từ 2018 cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh C;
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày 11/6/2013, hiện đang sống với ông C, khi ly hôn bà D đồng ý để ông C tiếp tục nuôi con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phạm Minh C được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông C vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Mỹ D đối với ông Phạm Minh C.
- Ông Phạm Minh C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày 11/6/2013. Bà Phạm Thị Mỹ D không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Phạm Thị Mỹ Duyên yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh C, ông C có nơi cư trú khóm M, thị trấn L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ D có yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Phạm Minh C đã được triệu tập lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[3] Bà Phạm Thị Mỹ D yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh C, bà D và ông C có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà Duyên trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chồng thường hay uống rượu nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, ông C đánh bà D nên vợ chồng không còn sống. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà D yêu cầu ly hôn và triệu tập ông C tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng ông C vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà D.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà D và ông C đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do ông C thường hay uống rượu nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, ông C đánh bà D và vợ chồng không còn sống chung từ 2018 cho đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D là phù hợp theo quy định pháp luật.
[4] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, bà D xác định vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày 11/6/2013, hiện đang chung sống với ông C. Bà D đồng ý để ông C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu H do ông C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng. Quá trình làm việc, Tòa án ghi nhận ý kiến con chung muốn sống chung với cha, bà D cũng đồng ý để ông C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và ông C cũng không có ý kiến phản đối vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử xét giao cháu H cho ông C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do ông C không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về quan hệ tài sản chung: Bà D không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về quan hệ nợ chung: Bà D trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ D đối với ông Phạm Minh C.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ D được ly hôn với ông Phạm Minh C.
Giấy chứng nhận kết hôn số 57, ngày 18 tháng 7 năm 2018 do Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Phạm Thị Mỹ D và ông Phạm Minh C không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung: ông Phạm Minh C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày 11/6/2013. Bà Phạm Thị Mỹ D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phạm Minh C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phạm Thị Mỹ D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Phạm Thị Mỹ D xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Phạm Thị Mỹ D và ông Phạm Minh C phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phạm Thị Mỹ D phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0015633 do Chi cục Thi hành án dân sự Hện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 20 tháng 6 năm 2024. Bà Phạm Thị Mỹ D đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
Bản án số 262/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 262/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh C; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Phạm Minh H, sinh ngày 11/6/2013, hiện đang sống với ông C, khi ly hôn bà D đồng ý để ông C tiếp tục nuôi con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.
