Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 262/2024/HS-ST

Ngày: 05/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Văn Tú
  • 2. Ông Lê Cát Tường

Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Trịnh Công Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 283/2024/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 293/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Phạm Hữu T. Sinh năm 1993;

HKTT và chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Hữu Q, sinh năm 1973 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1976; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 22/01/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. (Đã được xóa án tích)

Ngày 11/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. (Đã được xóa án tích)

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/3/2024 chuyển tạm giam ngày 02/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Có mặt)

2. Bị cáo Lê Văn N; Sinh năm 1982

HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Văn S, sinh năm 1960 và bà Lê Thị L (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/3/2024 chuyển tạm giam ngày 02/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Có mặt)

Những người bị hại

  • 1. Anh Hoàng Viết D, sinh năm 1991
  • Trú tại: Phố C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  • 2. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1970
  • Trú tại: Phố F Y, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  • 3. Chị Lê Thị M, sinh năm 1985
  • Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  • 4. Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1964
  • Trú tại: Tổ dân phố H, phường H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  • 5. Chị Lê Thị L1, sinh năm 1985
  • Trú tại: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Đoàn Đình H, sinh năm 1970

Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 29/3/2024 Lê Văn N và Phạm Hữu T rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu. N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honlei màu nâu trắng gắn biển kiểm soát 36H1-6717 chở T đi trên các tuyến đường thuộc địa phận thành phố T, địa phận huyện N và thị xã N, quan sát tìm xe mô tô không có người trông coi để trộm cắp. Trong các ngày 29/3/2024 và ngày 30/3/2024 Lê Văn N và Phạm Hữu T đã cùng thực hiện năm lần trộm cắp tài sản. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 29/3/2024 N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36H1-6717 chở T đi đến phố C, phường Q, thành phố T. Sau khi quan sát cả hai phát hiện thấy xe mô tô biển kiểm soát 36B2-26030 của anh Hoàng Viết D, sinh năm 1991; trú tại phố C, phường Q, TP. đang dựng trước cửa nhà anh D, không có người trông coi, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa. N dừng xe đứng cảnh giới; T xuống xe lén lút đi bộ lại nơi để xe mô tô biển kiểm soát 36B2-26030, mở khóa và điều khiển xe chạy đi. Cả hai điều khiển xe về nhà anh Đoàn Đình H, sinh năm 1970 (ở thôn T, xã Q, huyện Q) để gửi nhờ, khi gửi N nói với anh H là xe của N do đó anh H đồng ý. Sau đó N chở T tiếp tục đi tìm xe máy có sơ hở để trộm cắp.

Sáng 30/3/2024 N xuống nhà anh Đoàn Đình H nói cần tiền có việc gấp nên bán cho anh H chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B2-26030. N khẳng định là xe của N nên anh H đồng ý mua với giá 2.500.000đ. Số tiền bán xe N và T cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 29/3/2024, N điều khiển xe chở T đi đến phố X, phường Q, thành phố T. Cả hai phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 36B1-68621 của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1970 (trú tại phố F Y, phường Q, thành phố T) đang dựng trước cửa hàng đồ gỗ Huy L2, không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa. N dừng xe đứng cảnh giới; T đi bộ lại nơi để xe mô tô biển kiểm soát 36B1-68621, mở khóa xe và điều khiển xe chạy đi. Cả hai mang xe về nhà T cất giấu.

Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, N điều khiển xe chở T đi đến khu vực đường N, phường Q, thành phố T. Cả hai phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 36B3-48378 của chị Lê Thị M, sinh năm 1985 (trú tại thôn Đ, xã Đ, TP.) đang dựng trước cửa hàng T5 (địa chỉ số D N, P. Q, TP.) không có người trông coi, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khóa. N dừng xe đứng cảnh giới, T đi bộ lại nơi để xe mô tô biển kiểm soát 36B3-48378, mở khóa xe và điều khiển xe chạy đi. Cả hai mang xe về nhà N để cất giấu.

Lần thứ tư: Khoảng 21 giờ ngày 29/3/2024, N điều khiển xe chở T đi đến khu vực tổ dân phố H, phường H, thị xã N. Cả hai phát hiện xe mô tô biên kiểm soát 37L2-8208 của ông Hoàng Văn B, sinh năm 1964 (trú tại tổ dân phố H, phường H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) đang dựng trước nhà ông B, không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa. N dừng xe đứng cảnh giới; T đi bộ lại nơi để xe mô tô biển kiểm soát 37L2-8208, mở khóa và điều khiển xe chạy đi. Cả hai mang xe về nhà N cất giấu.

Lần thứ năm: Khoảng 9 giờ ngày 30/3/2024, N điều khiển xe chở T đi đến khu vực thôn B, xã T, huyện N. Cả hai quan sát phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 36P7-6267 của chị Lê Thị L1, sinh năm 1985 (trú tại thôn B, xã T, huyện N) đang dựng trước sân nhà, không có người trông coi, chìa khoá cắm ở ổ khóa. N dừng xe đứng cảnh giới; T đi bộ lại nơi để xe mô tô biển kiểm soát 36P7-6267, mở khóa và điều khiển xe chạy đi. Sau đó cả hai mang xe về nhà N cất giấu.

14 giờ ngày 30/3/2024, N và T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đầu thú.

Quá trình điều tra, Lê Văn N và Phạm Hữu T đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại “Kết luận định giá tài sản” số 30/KL-HĐ ĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave S, màu đen bạc, biển số 36B1-686.21 đã qua sử dụng, trị giá 5.500.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave Alpha, màu xanh, biển số 37L-2808 đã qua sử dụng, trị giá 2.800.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave Alpha, màu đỏ đen, biển số 36P7-6267 đã qua sử dụng, trị giá 4.500.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave S, màu đen xám, biển số 36B3-483.78 đã qua sử dụng, trị giá 6.300.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave RSX, biển số 36B2-260.30 đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000đ. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt (05 xe mô tô) là 25.100.000₫

Về vật chứng của vụ án: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa 01 xe mô tô nhãn hiệu Honlei, xe không có BKS. Lê Văn N khai đây là xe của N, N đã mua của 1 người không rõ lai lịch, để làm phương tiện đi lại, N đã sử dụng xe này làm phương tiện cùng T đi trộm cắp tài sản. “Kết quả tra cứu xe vật chứng” xác định: Xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng.

Đối với biển kiểm soát 36H1-671736, không phải BKS xe mô tô của N. Qua tra cứu xác định, BKS này mang tên ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1960 (trú tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Ông T3 khẳng định: Biển kiểm soát 36H1-6717 là của xe mô tô loại xe Dream của ông T3, đầu năm 2024 ông điều khiển đi trên QL1A từ TP T đi huyện Q thì bị rơi mất biển kiểm soát của xe. Ông T3 không khai báo cho cơ quan chức năng để cấp biển biển kiểm soát mới. Cơ quan điều tra đã trả lại biển kiểm soát 36H1-6717 cho ông T3.

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B2-26030 từ anh Đoàn Đình H; Thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B1-68621 từ Phạm Hữu T; Thu giữ 03 xe mô tô biển kiểm soát: 36P7-6267, 37L2-8208 và 36B3-48378 từ L. Cơ quan điều tra đã trả lại các xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đoàn Đình H không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền anh đã mua xe của các bị cáo; Không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Đối với việc anh Đoàn Đình H mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B2-26030 mà bị cáo N, T trộm cắp. Qua điều tra xác định: Khi mua tài sản này anh H không biết đây là tài sản các bị cáo trộm cắp mà có. Vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 12 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn N và Phạm Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của BLHS; Tuyên bố Phạm Hữu T, Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Phạm Hữu T từ 27 tháng đến 30 tháng tù; Xử phạt Lê Văn N từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày tạm giữ; Về vật chứng: Tiếp tục quy trữ chiếc xe máy nhãn hiệu HonLei mà các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội để xác định và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp; Về bồi thường dân sự: Người bị hại, người có QLNVLQ không yêu cầu nên không xét; Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Phạm Hữu T, Lê Văn N thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội; Không tranh luận với đại diện VKS, không bào chữa; Lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào các ngày 29 và ngày 30/3/2024, tại khu vực thành phố T; Khu vực phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và khu vực xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, các bị cáo Lê Văn N và Phạm Hữu T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý trông coi tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản là 05 xe mô tô của anh Hoàng Viết D, chị Nguyễn Thị T2, chị Lê Thị M, ông Hoàng Văn B, chị Lê Thị L1. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 25.100.000₫ (Hai lăm triệu một trăm ngàn đồng)

Căn cứ hành vi của các bị cáo và kết luận định giá tài sản đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Văn N, Phạm Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Phạm Hữu T, Lê Văn N theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cẩn thận, sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt 05 xe môtô của 05 người bị hại (anh D, chị T2, chị M, ông B, L1) với tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 25.100.000đ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trong khu vực. Trong thời gian hai ngày, các bị cáo đã thực hiện 5 lần trộm cắp, thể hiện sự táo tợn, coi thường pháp luật của các bị cáo.

[3] Xét vai trò đồng phạm: Vụ án có đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không có sự phân công cụ thể; N và T đều giữ vai trò là người thực hành, cùng chủ động, trực tiếp thực hiện tội phạm; Hưởng lợi ngang nhau; Tuy nhiên quá trình phạm tội N giữ vai trò cảnh giới, T là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt cả 5 chiếc xe, tích cực hơn N trong thực hiện tội phạm. Do đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm lớn hơn N.

[4] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo N, T đều phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; Các bị cáo đầu thú; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo do đó đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự. HĐXX xem xét để có mức hình phạt phù hợp, đảm bảo tính răn đe, sự khoan hồng của pháp luật. Song cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đề phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo T có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về cùng loại tội nhưng không ăn năn sửa chữa; Bị cáo có vai trò tích cực hơn bị cáo N trong việc thực hiện tội phạm. Vì vậy, bị cáo T phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N.

[5] Về vật chứng: 01 chiếc xe mô tô Honlei các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định xe đăng ký tên anh Dương Văn T4, sinh năm 1968 (Trú tại: Y- Ý - Nam Định); Anh T4 khẳng định sau thời gian sử dụng, xe hư hỏng nặng nên anh đã bán chiếc xe làm phế liệu, anh không còn nhớ tên tuổi địa chỉ của người mua. Cơ quan điều tra đã thực hiện tra cứu xe theo quy định; “Kết quả tra cứu xe vật chứng” xác định: Xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Bản thân N khai N đã mua xe này của một người không quen để làm phương tiện đi lại. Qua điều tra không có căn cứ chứng minh N sử dụng xe trên bất hợp pháp. Vì vậy xác định đây là tài sản của N; N đã sử dụng làm phương tiện phạm tội do đó tịch thu nộp NSNN theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xét.

[7] Đối với anh Đoàn Đình H là người đã mua chiếc xe máy BKS 36B2-26030 do các bị cáo N, T trộm cắp. Tuy nhiên khi mua tài sản này anh H không biết đây là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý anh H hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng pháp luật.

[8] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Bị cáo, người bị hại, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự
  • - Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Hữu T, Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu T 27 (hai bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2024
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn N 24 (hai tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2024
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô màu nâu, nhãn hiệu HONLEI, xe không gắn biển kiểm soát, trên lốc xe có chữ HONLEI-LIPAN, số khung: AA10606715; Số máy: MG 310606715; Tình trạng xe cũ gì nhiều, yên xe bị rách, yếm xe và đèn xe bị vỡ, xe không có gương chiếu hậu. Vật chứng hiện đang thu giữ tại Chi cục THADS thành phố T theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” số 168/2024/THA ngày 14/6/2024 giữa Công an TPTH và Chi cục Thi hành án dân sự TPTH.
  • - Về bồi thường dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu, HĐXX không xét.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Hữu T, Lê Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
  • - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Hữu T, Lê Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Hoàng Viết D, chị Nguyễn Thị T2, chị Lê Thị M, ông Hoàng Văn B, chị Lê Thị L1, anh Đoàn Đình H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKVND TP Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an TP Thanh Hóa
  • - Chi cục THADS TP Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 262/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 262/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu T + N (Trộm cắp TS)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger