Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 262/2025/HNGĐ-ST

Ngày 31-12-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
  2. Bà Bùi Thị Thuý Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 361/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Bích C, sinh năm 1980; thường trú: 81/18, Đường số A, Tổ D, phường B, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: F, đường T, xã V, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Đoàn Vinh Q, sinh năm 1979; thường trú: số B, khu phố B, phường D, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 9 năm 2025 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Bích C trình bày:

Bà và ông Đoàn Vinh Q tự nguyện yêu nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 106, quyển số 02 vào ngày 13/12/2002.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại D, Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường xuyên tranh cãi, ông Q còn sử dụng trái phép chất ma tuý, bà đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng không được. Năm 2022, bà và các con chuyển ra phòng trọ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà có 02 người con chung tên là Đoàn Ngọc Á, sinh năm 2003 và Đoàn Văn D, sinh ngày 29/7/2006. Các con chung đã trưởng thành bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Đoàn Vinh Q đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 12 và 31/12/2025 nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà C, không cung cấp tài liệu, chứng cứ trong vụ án, cũng không ý kiến về việc triệu tập thêm người vào tham gia tố tụng trong vụ án.

- Tại Biên bản xác minh ngày 03/11/2025, Hội Liên hiệp Phụ nữ phường D cung cấp thông tin như sau: Hội không nhận được đơn đề nghị hoà giải hôn nhân giữa bà Võ Bích C với ông Đoàn Vinh Q, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai ông, bà trên, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng ông, bà như thế nào.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Bích C với ông Đoàn Vinh Q tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 106, quyển số 02 vào ngày 13/12/2002, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2] Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Theo lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình tố tụng thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau; ông Q còn sử dụng trái phép chất ma tuý, mặc dù bà C đã khuyên nhủ ông Q để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Hai vợ chồng đã thời gian sống ly thân từ năm 2022 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, vì vậy, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn, nên yêu cầu xin ly hôn của bà C là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu là Đoàn Ngọc Á, sinh năm 2003 và Đoàn Văn D, sinh ngày 29/7/2006. Các con chung đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5] Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Bích C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; các Điều 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Bích C được ly hôn với ông Đoàn Vinh Q (theo giấy chứng nhận kết hôn số 106, quyển số 02 do UBND xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/12/2002).
  2. Về con chung: Con chung Đoàn Ngọc Á, sinh năm 2003 và Đoàn Văn D, sinh ngày 29/7/2006 đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu, Toà án không giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Bích C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0021976 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Chi thi hành án Dân sự Thành phố H.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

- Đương sự (2);

- VKSND khu vực 16 – TP. HCM(1);

- THA TP. HCM (1);

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 262/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 262/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Bích C yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Vinh Q.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger