TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI TP. HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 262/2024/HS - ST
Ngày: 24/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Trần Thị Kim Cúc |
| Các Hội thẩm nhân dân : | 1. Bà Tạ Thị Thà 2. Bà Trần Thị Kim Dung |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Trần Hải Minh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai |
| Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: | Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên |
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 263/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST - HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thăng H; sinh năm: 1992, nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Thăng B – sinh năm 1964 (đã chết); con bà: Lê Thị S – sinh năm 1969; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; vợ là chị Trần Thị V - sinh năm 2000; có 02 con lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: 02 tiền sự; ngày 18/02/2020, Công an huyện T, Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc. Ngày 23/01/2021, công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Bị cáo đầu thú ngày 18/7/2024, bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 25/7/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
* Người bị hại:
Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu
Trụ sở: K đường N, phường H, quận H, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T- Tổng giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Đào Thị Hồng N- phó giám đốc Công ty Q trực thuộc Công ty CP S1 và hàng xuất khẩu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/7/2024, chị Lê Thị Trâm A (SN 1996) thuê Nguyễn Thanh H1 đến nhà để lắp đặt điều hòa tại căn hộ 1001 DV01 Chung cư R, thuộc Tòa nhà Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu địa chỉ số G N, phường H, H, Hà Nội. Khi đến H1 có thuê thêm 02 người thợ khác ở trên mạng (không rõ nhân thân lai lịch) đi làm cùng. Trong quá trình lắp đặt điều hòa, H1 có mượn của chị Trâm A thẻ từ ra vào thang máy, mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không nhớ biển kiểm soát) của một trong 02 nam thanh niên đi cùng rồi một mình đi đến khu vực chợ Đ1 mua một chiếc túi da màu đen, kích thước khoảng 30-50cm. Sau đó, H1 điều khiển xe máy đi đến công trình xây dựng UBND phường C, quận H, Hà Nội để lấy 01 chiếc kìm cắt cáp dài khoảng 20cm (đây là kìm của H1 do H1 đang làm lắp đặt điện nước tại đây) rồi đi về Chung cư D. H1 đi thang máy lên tầng thượng của chung cư, sau đó dùng kìm cắt khoảng 40m dây cáp đồng chống sét là tài sản của Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu rồi cho vào chiếc túi da màu đen mua trước đó. H1 sử dụng xe máy mượn của một trong 02 nam thanh niên mang số cáp đi đến cửa hàng thu mua phế liệu tại địa chỉ số A N, H, H, Hà Nội để bán cho chị Vũ Thị H2 (SN 1986 - là chủ cửa hàng) với giá 4.400.000 đồng. Sau đó, H1 lái xe máy về chung cư để trả xe máy cho nam thanh niên rồi bắt xe ôm về công trình xây dựng UBND phường C, trên đường đi H1 đã vứt chiếc túi da màu đen, bên trong đựng chiếc kìm cắt cáp xuống chân cầu vượt Hồ Linh Đ, H, H, Hà Nội. Đến ngày 18/7/2024, H1 đã đến cơ quan công an để đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã tiến hành dẫn giải H1 đến địa điểm vứt chiếc túi da màu đen, bên trong đựng 01 chiếc kìm cắt dây đồng nhưng không thu giữ được gì.
Tạm giữ của Nguyễn Thăng H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu xanh đen.
Kết luận định giá tài sản số 212 ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: “40 mét dây cáp tiếp địa 1x70, tài sản đã qua sự dụng trị giá 8.000.000 đồng”.
Đối với chị Vũ Thị H2 (người mua dây cáp của H), khai không quen biết Nguyễn Thăng H, ngày 12/7/2024 là lần đầu chị gặp và mua dây cáp đồng từ H. Chị H2 không biết tài sản H bán cho chị là do trộm cắp mà có, nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chị Lê Thị Trâm A là người cho H mượn chìa khóa từ của thang máy, chị khai nhận cho H mượn mục đích để vận chuyển linh kiện ra vào cho thuận tiện, chị không biết việc H dùng thẻ từ để đi thang máy lên tầng 28 tiến hành trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý.
Đối với 02 nam thanh niên H nhờ đến lắp điều hòa cùng và mượn xe máy, hiện không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11promax màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Thăng H, xác minh H dùng liên quan việc bán số dây cáp đồng do trộm cắp mà có nên cần tịch thu tiêu hủy.
Chị Đào Thị Hồng N - Đại diện cho công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt tù đối với hành vi của Nguyễn Thăng H.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thăng H đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 265/CT-VKS-HM ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thăng Hằng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
- * Bị cáo Nguyễn Thăng H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo là đúng, không oan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 8 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 16 đến 20 tháng. Buộc bị cáo phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 4.400.000 đồng. Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11promax màu xanh đen thu giữ của bị cáo H do liên quan đến hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: ngày 12/7/2024, tại Tầng T, Chung cư R, thuộc Tòa nhà Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu địa chỉ số G N, phường H, H, Hà Nội quản lý. Nguyễn Thăng H đã có hành vi dùng kìm cắt trộm 40 mét dây cáp đồng chống sét là tài sản của Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu của Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu, sau đó đem bán được 4.400.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản qua định giá có trị giá 8.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân do đó cần thiết phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.
[3] Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét việc bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để áp dụng điểm i, s khoản 1 điều 51 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo tự nguyện ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Nhân thân thân bị cáo có 02 tiền sự về hành vi đánh bạc và đánh nhau nhưng đều đã hết thời hiệu. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân vợ bị cáo bỏ đi, bố bị cáo đã chết, mẹ bị cáo ở nhà làm ruộng, bị cáo phải làm việc để nuôi hai con nhỏ. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa sai và cũng thể hiện được tính chất nhân đạo của Nhà nước.
Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về phần dân sự và các vấn đề khác: Đối với tài sản trộm cắp là 40 mét dây cáp tiếp địa 1x70, trị giá 8.000.000 đồng, Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu đã tự khắc phục, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt với bị cáo Nguyễn Thăng H nên cần buộc bị cáo truy nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 4.400.000 đồng do phạm tội mà có. Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11promax màu xanh đen thu giữ của bị cáo H do liên quan đến hành vi phạm tội.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ: điều 106, điều 136, điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án, mục 1 phần I Danh mục án phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thăng H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Nguyễn Thăng H : 08( tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 16( mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để quản lý giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trách nhiệm dân sự : Bị hại không yêu cầu nên buộc bị cáo phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 4.400.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen, Imei 1: 352839115229663, Imei 2: 352839115157047 đã qua sử dụng.
( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2025-0008 ngày 21/10/2024)
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Cúc |
Bản án số 262/2024/HS - ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP. HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 262/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thăng Hằng phạm tội Trộm cắp tài sản.
