TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 262/2024/HS-ST Ngày 13-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh và Đinh Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đoàn Văn Thắng-Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 361/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Gia T, sinh năm 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số A, đường L, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà đã bán từ năm 1989 và hiện không còn cư trú tại địa phương); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần B (chết) và bà Châu Ngọc L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 16/3/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 22/01/2009 và quyết định khác ngày 22/10/2007, án tích đã được xóa); ngày 19/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 10/10/2016 và quyết định khác ngày 04/4/2016, án tích đã được xóa); ngày 03/01/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 06/11/2021, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị bắt tạm giam từ ngày 08-4-2024 cho đến nay “có mặt".
*Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: chị Đặng Thị Kim N, sinh năm 2003. Nơi thường trú: nhà số E, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú hiện nay: nhà số C, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “ vắng mặt”;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lê Hòa H, sinh năm 1977. Nơi thường trú: nhà số B, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú hiện nay: nhà số C, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “ vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Trần Gia T điều khiển xe môtô biển số 59M1-27607 từ chỗ ăn cơm trưa về đến trước nhà số B, đường M, phường B, quận B thì nhìn thấy cửa cổng nhà này khóa và bên trong sân nhà có để khoảng 3-4 chiếc xe môtô nhưng vắng người nên nảy sinh ý định lấy bán kiếm tiền tiêu xài. Khi đó, T điều khiển xe chạy về nhà gần đó cất xe rồi lấy 01 thanh kim loại dạng số, hình chữ L và 01 cây tua vít cất trong túi quần bên phải rồi đi bộ quay lại căn nhà trên. Tại đây, T lấy thanh kim loại dạng số, hình chữ L cầm trên tay phải mở ổ khóa cổng ra rồi đi vào sân nhà dùng tua vít phá ổ khóa chiếc xe môtô hiệu SUNLUX, màu đỏ-đen, biển số 67M4-9257 của chị Đặng Thị Kim N dẫn ra ngoài điều khiển chạy về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ ngày 18/3/2024, chị Nguyên phát H1 xe bị mất nên kiểm tra camera của cửa hàng lên xem, đã phát hiện T là người lấy chiếc xe của chị chạy đi theo hướng vào đường A nên đến Công an phường B trình báo. Qua truy xét trong ngày, Công an phường B đã tiến hành mời được T đến trụ sở Công an phường làm việc và thu giữ vật chứng là xe của chị N. Sau khi lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường B đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như vừa mới nêu trên. Còn theo kết luận định giá tài sản thì chiếc xe của chị N trị giá 3.000.000 đồng và còn tiếp tục tạm giữ chờ xử lý sau do chưa trả lại được cho cha chồng chị N là anh Lê Hòa H.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Gia T đã khai nhận: khi đang trên đường điều khiển xe môtô biển số 59M1-27607 từ chỗ ăn cơm trưa về thì bị cáo nhìn thấy có 01 nhà cửa cổng khóa và trong sân nhà có để nhiều xe môtô nhưng không ai trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định lấy bán kiếm tiền tiêu xài. Khi đó, bị cáo điều khiển xe chạy về nhà gần đó cất xe rồi lấy 01 thanh kim loại dạng số, hình chữ L và 01 cây tua vít cất trong túi quần rồi đi bộ quay lại căn nhà trên. Đến nơi, bị cáo lấy thanh kim loại dạng số, hình chữ L mở khóa cổng ra rồi đi vào bên trong sân nhà dùng tua vít phá ổ khóa chiếc xe môtô hiệu SUNLUX, màu đỏ-đen, biển số 67M4-9257 của chị Đặng Thị Kim N dẫn ra ngoài điều khiển chạy về nhà cất giấu để sử dụng làm phương tiện đi làm. Nhưng sau đó đã bị Công an phát hiện mời lên làm việc và thu giữ chiếc xe này nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản là chiếc xe của chị N và trách nhiệm dân sự; riêng về 01 cái áo thun, 01 cái quần Kaki, 01 cái nón lưỡi trai và 01 đôi dép của bị cáo thì không yêu cầu trả lại.
Tại Cáo trạng số: 218/CT-VKS, ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Gia T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Trần Gia T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản trị giá 3.000.000 đồng của chị Đặng Thị Kim N. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lại có nhân thân xấu nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, do phía bị hại chỉ yêu cầu giao trả chiếc xe còn đang bị tạm giữ và không yêu cầu gì thêm nên không có ý kiến. Còn về vật chứng, đề nghị: giao trả lại 01 chiếc xe môtô biển số 67M4-9257 cho anh Lê Hòa H; tịch thu tiêu hủy gồm: 01 ổ khóa, 01 cái áo thun, 01 cái quần Kaki, 01 cái nón lưỡi trai và 01 đôi dép.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Trần Gia T tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 18/3/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản là chiếc xe môtô hiệu SUNLUX, màu đỏ-đen, biển số 67M4-9257 của chị Đặng Thị Kim N để tại sân nhà số B, đường M, phường B, quận B. Theo Kết luận định giá tài sản số: 70/KL-HĐĐGTS, ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì chiếc xe của chị N trị giá 3.000.000 đồng. Riêng tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 1941/KLGĐ, ngày 03/4/2024 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố H, đã kết luận đối với Trần Gia T về y học: “Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản vào ngày 18/3/2024 cho đến hiện tại đối tượng Trần Gia T tâm thần bình thường”; còn về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: “Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 18/3/2024 cho đến hiện tại đối tượng Trần Gia T có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Do đó, bị cáo Trần Gia T đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- [3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại; Biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra; hình ảnh trích xuất từ camera ghi nhận tại hiện trường, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
- [4] Xét, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn cho nhu cầu của cá nhân; đồng thời, bị cáo đã từng nhiều lần bị kết án và xử lý hành chính mà vẫn còn vi phạm pháp luật hình sự nên nay cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: bị cáo không có nghề nghiệp và điều kiện về kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: xét tuy tại phiên tòa hôm nay, tuy bị hại là chị Đặng Thị Kim N đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt, nhưng theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì: tài sản mà chị bị chiếm đoạt là chiếc xe môtô hiệu SUNLUX, màu đỏ-đen, biển số 67M4-9257 do cha chồng của chị là anh Lê Hòa H cho chị mượn và hiện còn bị tạm giữ, chị chỉ yêu cầu trả xe lại cho anh H là đủ và không yêu cầu gì thêm nên sẽ được xem xét giải quyết tại phần vật chứng.
- [7] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy Sunlux, BS 67M4-9257, SK RLRWCHCHG7H008232, SM VHGSL152FMH-008232 (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”) do của cha chồng bị hại chị Đặng Thị Kim N là anh Lê Hòa H cho chị mượn cho chị N mượn sử dụng bị chiếm đoạt nên cần giao trả lại cho anh H2. Riêng đối với 01 ổ khóa kim loại hiệu V (đã hư hỏng, vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 áo thun màu đen trắng (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 quần Kaki màu nâu (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 nón lưỡi trai màu trắng (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 đôi dép quai ngang màu đen, trên quai có hiệu bằng kim loại (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”) của bị cáo sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội và không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.
- [8] Bị cáo Trần Gia T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Xử phạt bị cáo Trần Gia T 01 (một) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 08-4-2024.
- Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Giao trả lại 01 chiếc xe máy Sunlux, BS 67M4-9257, SK RLRWCHCH G7H008232, SM VHGSL152FMH-008232 (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”) cho anh Lê Hòa H.
- - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 ổ khóa kim loại hiệu Việt Tiệp (đã hư hỏng, vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 áo thun màu đen trắng (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 quần Kaki màu nâu (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 nón lưỡi trai màu trắng (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”); 01 đôi dép quai ngang màu đen, trên quai có hiệu bằng kim loại (vụ Trần Gia T tội “Trộm cắp tài sản”).
- (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/242TV, ngày 18/7/2024)
- Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Gia T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo Trần Gia T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Đặng Thị Kim N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Hòa H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
6
Bản án số 262/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 262/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Gia T “Tội trộm cắp tài sản”
