Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 262/2024/HS-PT

Ngày: 15 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

— — — — — — — — — — — — — — —

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Ông Hoàng Minh Thịnh

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 636/2023/TLPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Trần Cường G cùng các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 341/2023/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

* Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trần Cường G; sinh năm 1998; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 1 P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 4 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam ngày 06/01/2021 đến ngày 15/11/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Họ và tên: Ngô Thanh S; sinh năm 2000; tại Lai Châu; Thường trú: Bản T, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu; tạm trú: 135 N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyên Văn N và bà Phạm Thị Bích N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam ngày 06/01/2021 đến ngày 12/5/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  3. Họ và tên: Nguyễn Huy H; sinh năm 1993; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: D N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Phòng 305 nhà số C C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn T1 và bà Bùi Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  4. Họ và tên: Hứa Thị Diễm T3; sinh năm 1976; tại Sóc Trăng; Thường trú: 49 đường số A, Khu phố B, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Sầm L và bà Lê Thị T4; có chồng và 07 người con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2002); tiền án, tiền sự: không; tạm giam ngày 07/01/2021 đến ngày 12/01/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (vắng mặt).
  5. Họ và tên: Huỳnh Minh T5; sinh năm 1973; tại Tiền Giang; Thường trú: 1 M, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Huỳnh Thị H1 (bố không rõ tên); có vợ và 01 con sinh năm 1999 (là bị cáo Huỳnh Ngọc A trong vụ án); tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  6. Họ và tên: Nguyễn Văn P; sinh năm 1984; tại Đồng Nai; Thường trú: Khu phố B, phường B, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ làm tóc; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N2 và bà Chu Xuân P1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam ngày 07/01/2021 đến ngày 12/01/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H: Luật sư Phạm Công D và Luật sư Khưu Mỹ V, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

(Trong vụ án còn có 06 bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 cùng lúc tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại 02 địa điểm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm tại địa chỉ số E Quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Nhật L1, Ngô Thanh S và Huỳnh Ngọc A đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận thầu số đề được thua bằng tiền với tổng số tiền thể hiện trên phơi đề là 177.674.000 đồng, tại địa chỉ số C B, Phường A, quận B có Nguyễn Ngọc S1 và Trần Cường G đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận thầu số đề được thua bằng tiền với tổng số tiền thể hiện trên phơi đề là 478.983.000 đồng. Quá trình mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trung H2, Phan Gia T6 và Nguyễn Huy H về hành vi “Tổ chức đánh bạc”, Hứa Thị Diễm T3, Võ Thị Hồng M1, Nguyễn Văn P về hành vi “Đánh bạc”.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Nhật L1 bắt đầu tổ chức đánh bạc với hình thức nhận thầu số đề từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề bằng cách nhận phơi đề qua tin nhắn điện thoại di động và ứng dụng Viber hoặc đến ghi số đề trực tiếp. Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các đài Miền Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Bến Tre, Vũng Tàu, Đồng Nai, Cần Thơ, Tây Ninh, An Giang, Bình Dương, Vĩnh Long, Tiền Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng...và đài Miền B do các Công ty xổ số của Nhà nước tổ chức quay số để làm căn cứ tính toán kết quả thắng thua với nhau bằng tiền Việt Nam, cách tính tỷ lệ thắng thua như sau: Nếu đối tượng ghi số đề 02 con số mà trúng thì sẽ thắng theo tỷ lệ 01 ăn 75, ghi số đề 03 con số mà trúng thì sẽ thắng theo tỷ lệ 01 ăn 650, ghi số đề 04 con số mà trúng thì sẽ thắng theo tỷ lệ 01 ăn 5.500, ghi 02 cặp số mà trúng thì sẽ thắng theo tỷ lệ 01 ăn 550. Theo quy ước thì số tiền thể hiện trên phơi đề chỉ ghi con số ở đơn vị hàng ngàn (bỏ ba số 0 cuối), ví dụ số tiền 1.000 đồng thì ghi là 1 trên phơi đề. L1 thuê Huỳnh Ngọc A, Nguyễn Thanh S2 và Trần Cường G giúp L1 nhận tin nhắn các phơi đề của các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề, sau đó nhắn tin cho L1 kết quả thắng thua sau khi có kết quả xổ số để tính tiền thắng thua. L1 thuê Nguyễn Trung H2 và Phan Gia T6 đi giao, nhận tiền thắng thua hàng ngày với các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề, ngoài ra khi L1 đi vắng hoặc thiếu tiền chung chi thì Nguyễn Ngọc S1 (em ruột L1) sẽ đứng ra giúp L1 tính toán tiền thắng thua và ứng tiền chung chi với các đại lý và đối tượng đánh bạc.

- Hành vi phạm tội của nhóm hành vi “Tổ chức đánh bạc” cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Nhật L1 khai nhận: Khoảng đầu năm 2020, L1 bắt đầu tổ chức đánh bạc với hình thức nhận thầu số đề từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề bằng cách nhắn tin qua điện thoại di động, ứng dụng Viber hoặc đến ghi số đề trực tiếp. L1 thuê Huỳnh Ngọc A, Ngô Thanh S và Trần Cường G làm nhiệm vụ nhận tin nhắn phơi đề của các đại lý cấp dưới và các đối tượng ghi số đề chuyển đến, thuê Phan Gia T6 và Nguyễn Trung H2 làm nhiệm vụ đi giao nhận tiền thắng thua với các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề. Ngoài ra, khi L1 đi vắng thì có Nguyễn Ngọc S1 (em ruột L1) tính toán và chung chi tiền thắng thua trong ngày. Để thực hiện hoạt động nhận phơi đề qua điện thoại, L1 mua cho Ngọc A và S mỗi người 01 chiếc điện thoại di động, riêng G 02 chiếc điện thoại di động có sim thuê bao và cài đặt sẵn phần mềm tính tiền thắng, thua để sử dụng vào việc nhận phơi đề qua tin nhắn từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề. Hàng ngày, Ngọc A, S và G nhận tin nhắn từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng ghi số đề đến khi có kết quả xổ số thì nhập lô, số đề (theo các tin nhắn) vào phần mềm có sẵn trên điện thoại để tính tiền thắng thua rồi báo cho L1 và các đại lý, đối tượng chơi số đề biết, sau đó L1 sẽ giao cho T6 và H2 trực tiếp đi giao, nhận tiền thắng, thua. L1 trả công cho G 10.000.000 đồng/1 tháng, trả cho Ngọc A ban đầu là 4.500.000 đồng/1 tháng sau đó tăng lên 9.000.000 đồng/1 tháng, trả cho S 4.500.000 đồng/1 tháng, trả cho T6 5.000.000 đồng/1 tháng, trả cho H2 6.000.000 đồng/1 tháng, riêng S1 do là em ruột nên L1 không trả tiền công.
  2. Vào ngày 06/01/2021, khi L1 cùng với Ngọc A và S đang ở nhà số E Quốc lộ A, phường H, thành phố T nhận phơi đề của các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề chuyển qua bằng tin nhắn thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Từ lúc tổ chức đánh bạc đến ngày bị Công an phát hiện bắt giữ, sau khi đã trừ tiền trả công cho các bị can giúp sức, L1 hưởng lợi được khoảng 250.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền trên.

  3. Huỳnh Ngọc A khai nhận: Nguyễn Nhật L1 là cậu ruột của Ngọc A, biết L1 tổ chức đánh bạc bằng hình thức thầu đề. Đầu năm 2020, Ngọc A bắt đầu giúp sức cho L1 trong hoạt động thầu đề với nhiệm vụ nhận phơi đề từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng ghi số đề qua tin nhắn và ứng dụng Viber. Hàng ngày, khoảng từ 14 giờ đến 16 giờ Ngọc A sử dụng điện thoại di động có gắn sẵn sim thuê bao do L1 mua để nhận phơi đề. Sau khi có kết quả xổ số, Ngọc A nhập lô, số đề vào phần mềm cài sẵn trên điện thoại để tính tiền thắng, thua với các đại lý và các đối tượng chơi số đề và báo kết quả thắng, thua cho L1 và các đại lý biết. Ngày 06/01/2021, khi Công an kiểm tra dữ liệu trong điện thoại di động của Ngọc A thể hiện các đại lý và đối tượng đánh bạc đã gửi tin nhắn mua số đề với tổng số tiền là 105.383.000 đồng. Khoảng 03 tháng đầu L1 trả công cho Ngọc A 4.500.000 đồng/1 tháng, sau đó trả công 9.000.000 đồng/1 tháng, tổng cộng Ngọc A được trả công 76.500.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.
  4. Ngô Thanh S khai nhận: Huỳnh Ngọc A giới thiệu cho S vào làm việc cho L1 từ khoảng tháng 4/2021. Hàng ngày, từ khoảng 15 giờ đến 18 giờ, S có nhiệm vụ sử dụng điện thoại di động có sẵn sim thuê bao do L1 cung cấp để nhận phơi đề thông qua tin nhắn và ứng dụng Viber từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề gửi đến và gửi lên nhóm Viber của L1. Sau khi có kết quả xổ số, S nhắn tin gửi lại kết quả thắng, thua cho các đại lý và các đối tượng chơi số đề tương ứng gửi cho S trước đó. Ngày 06/01/2021, khi Công an kiểm tra dữ liệu trong điện thoại di động của S thể hiện các đại lý và đối tượng đánh bạc đã gửi tin nhắn mua số đề với tổng số tiền là 72.291.000 đồng. L1 trả công cho S 4.500.000 đồng/1 tháng, tổng cộng S được trả công 31.500.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.
  5. Trần Cường G khai nhận: Khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Ngọc S1 (em ruột L1) giới thiệu G làm việc cho L1 với nhiệm vụ nhận phơi đề từ các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề thông qua tin nhắn và ứng dụng Viber và được L1 trả công 10.000.000 đồng/1 tháng. Hàng ngày, L1 giao cho G 02 điện thoại di động có gắn sẵn sim thuê bao và cài đặt sẵn phần mềm tính tiền thắng thua để sử dụng vào việc nhận phơi đề và tính tiền thắng thua cho các đại lý và các đối tượng chơi số đề. Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 06/01/2021, khi G đang cùng S1 ở nhà số C B, Phường A, quận B nhận phơi đề qua tin nhắn thì bị Công an bắt quả tang, kiểm tra dữ liệu trong điện thoại di động của S thể hiện các đại lý và đối tượng đánh bạc đã gửi tin nhắn mua số đề với tổng số tiền là 478.983.000 đồng. Tính đến ngày bị bắt, G được L1 trả công 100.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.
  6. Nguyễn Ngọc S1 khai nhận: Khoảng đầu năm 2020, biết Nguyễn Nhật L1 (anh ruột S1) tổ chức đánh bạc với hình thức thầu số đề nên S1 đã giới thiệu Trần Cường G và Nguyễn Trung H2 để làm việc cho L1. Mỗi khi L1 đi vắng hoặc thiếu tiền thì S1 phụ giúp trong việc tính tiền thắng, thua và ứng tiền để chi trả cho các đại lý và các đối tượng chơi số đề, do là anh em ruột nên S1 không được L1 trả công. Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 06/01/2021, khi S1 đang cùng G ở nhà số C B, Phường A, quận B để nhận phơi đề qua tin nhắn thì bị Công an bắt quả tang.
  7. Nguyễn Trung H2 khai nhận: Khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Ngọc S1 giới thiệu H2 đến làm việc cho Nguyễn Nhật L1, nhiệm vụ của H2 là giao nhận tiền thắng thua với các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề. Hàng ngày, L1 sẽ đưa tiền cho H2 để đi giao cho các đại lý và đối tượng chơi số đề thắng và ngược lại đến thu tiền các đại lý và các đối tượng chơi số đề thua mang về giao trực tiếp cho L1. Mỗi tháng, L1 trả công cho H2 6.000.000 đồng, tính đến ngày bị bắt H2 được trả công 72.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.
  8. Phan Gia T6 khai nhận: Nguyễn Nhật L1 là cháu ruột của T6, khoảng tháng 6/2020 L1 có thuê T6 làm nhiệm vụ đi giao nhận tiền thắng thua với các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề thì T6 đồng ý. Nhiệm vụ của T6 là hàng ngày đi gặp các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề để giao nhận tiền thắng thua. L1 trả công cho T6 5.000.000 đồng/1 tháng, tính đến ngày bị bắt T6 được trả công 30.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.
  9. Nguyễn Huy H khai nhận: Khoảng năm 2018, H quen biết với đối tượng Bùi Nhựt A1 (chưa rõ lai lịch), đến đầu năm 2020 Nhựt A1 thuê H nhận phơi đề từ các đối tượng đánh bạc qua tin nhắn điện thoại rồi chuyển cho đại lý cấp trên và trả công 4.000.000 đồng/1 tháng thì H đồng ý. Hàng ngày, H sử dụng điện thoại di động có sẵn số thuê bao do Nhựt A1 đưa để nhận các tin nhắn chơi số đề từ các đối tượng đánh bạc rồi chuyển tiếp các tin nhắn này cho đại lý cấp trên là Trần Cường G theo số điện thoại mà Nhựt A1 đã cung cấp. Sau khi có kết quả xổ số, H đối chiếu kết quả, tính toán tiền thắng thua rồi gửi bảng tổng hợp kết quả cho Nhựt A1, việc giao nhận tiền thắng thua với các đối tượng đánh bạc do Nhựt A1 thực hiện. Ngày 06/01/2021, Công an kiểm tra dữ liệu trong điện thoại di động của H thể hiện các đối tượng đánh bạc đã gửi tin nhắn mua số đề với tổng số tiền là 63.546.000 đồng, sau đó H đã chuyển các tin nhắn mua số đề cho Trần Cường G. Tính đến ngày bị bắt, H được Nhựt A1 trả công tổng số tiền 36.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.

- Hành vi phạm tội của nhóm hành vi “Đánh bạc” cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Văn P khai nhận: Khoảng tháng 11/2020, P đã nhiều lần gửi tin nhắn V1 mua số đề của Huỳnh Ngọc A qua số điện thoại 0899.755.xxx, tiền thắng thua từ 5.000.000 đồng trở lên thì có Nguyễn Trung H2 đến gặp P để giao nhận. Ngày 06/01/2021, P nhắn tin mua số đề 02 đài xổ số Đồng Nai và Cần Thơ của Huỳnh Ngọc A với tổng số tiền là 5.104.000 đồng, khi chưa có kết quả xổ số thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 mời về làm việc, P đã thừa nhận hành vi đánh bạc như nêu trên.
  2. Võ Thị Hồng M1 khai nhận: Khoảng tháng 4/2020, M1 biết Nguyễn Huy H và đối tượng tên T7 (chưa rõ lai lịch) nhận ghi lô, số đề nên khi muốn chơi số đề M1 thường nhắn tin mua số đề của H và T7 qua tin nhắn và ứng dụng Whatsapp. Ngày 06/01/2021, M1 nhắn tin mua số đề 02 đài xổ số Đồng Nai và Cần Thơ của H với tổng số tiền là 8.860.000 đồng và mua số đề của T7 cùng nội dung với tổng số tiền là 8.860.000 đồng, khi M1 đang ở nhà chờ kết quả xổ số thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 mời về làm việc, Mỹ đã thừa nhận hành vi đánh bạc như nêu trên.
  3. Hứa Thị Diễm T3 khai nhận: Thông qua mối quan hệ xã hội, T3 biết Nguyễn Trung H2 tham gia tổ chức thầu số đề thắng thua bằng tiền. Do muốn kiếm tiền thông qua việc chơi đề, T3 đã liên hệ và được H2 giới thiệu liên lạc với tài khoản Viber của Huỳnh Ngọc A. Từ tháng 11/2020, T3 thường gửi tin nhắn mua số đề qua Viber cho Ngọc A, khi có kết quả xổ số Ngọc A nhắn tin cho T3 biết kết quả số tiền thắng thua, việc giao nhận tiền thắng thua do Nguyễn Trung H2 thực hiện. Ngày 06/01/2021, T3 nhắn tin mua số đề 02 đài xổ số Đồng Nai và Cần Thơ của Ngọc A với tổng số tiền là 8.860.000 đồng và mua số đề của T7 cùng nội dung với tổng số tiền là 16.912.000 đồng, khi T3 đang ở nhà chờ kết quả xổ số thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 mời về làm việc, T3 đã thừa nhận hành vi đánh bạc như nêu trên.
  4. Huỳnh Minh T5 khai nhận: Khoảng tháng 6/2020, T5 muốn chơi số đề để kiếm tiền tiêu xài nên hỏi Nguyễn Nhật L1 (em vợ của T5), thì L1 cho số điện thoại 0909.435.xxx của Trần Cường G để mỗi khi muốn chơi thì T5 nhắn tin nội dung các số cần ghi và số tiền chơi vào số điện thoại của G. Sau khi có kết quả xổ số, G sẽ nhắn tin cho T5 số tiền thắng, thua trong ngày, khi số tiền thắng thua đến 10.000.000 đồng thì Phan Gia T6 sẽ đến gặp T5 để giao nhận tiền thắng thua. Ngày 06/01/2021, T5 sử dụng điện thoại gắn sim số 0938.218.xxx nhắn 07 tin SMS vào số điện thoại 0909.435.xxx của G để mua số đề của 02 đài xổ số Đồng Nai và Cần Thơ với tổng số tiền 7.670.000 đồng. Sau khi nghe tin L1 bị Công an bắt, T5 đã vứt bỏ điện thoại cùng sim số 0938.218.xxx.

* Tại bản cáo trạng số 273/CT-VKS-P2 ngày 17/5/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Nhật L1, Nguyễn Ngọc S1, Trần Cường G, Huỳnh Ngọc A, Ngô Thanh S, Phan Gia T6, Nguyễn Trung H2 và Nguyễn Huy H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Các bị cáo Nguyễn Văn P, Hứa Thị Diễm T3, Võ Thị Hồng M1 và Huỳnh Minh T5 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 341/2023/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

  1. Xử phạt bị cáo Trần Cường G 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời hạn tạm giam từ 06/01/2021 đến ngày 15/11/2021.
  2. Xử phạt bị cáo Ngô Thanh S 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 06/01/2021 đến ngày 12/5/2021.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2022.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

  1. Xử phạt bị cáo Hứa Thị Diễm T3 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 07/01/2021 đến ngày 12/01/2021.
  2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T5 09 (C) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (C) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 07/01/2021 đến ngày 12/01/2021.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Nhật L1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Trung H2 03 (Ba) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Phan Gia T6 02 (Hai) năm tù; xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc A 03 (Ba) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho các bị cáo hưởng án treo; xử phạt bị cáo Võ Thị Hồng M1 50.000.000 đồng. Đồng thời, án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Trong các ngày 24 - 27 - 28/7/2023, các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Nguyễn Huy H, Hứa Thị Diễm T3, Huỳnh Minh T5, Nguyễn Văn P có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ và xin hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Riêng bị cáo H xin giảm hình phạt xuống còn bằng thời hạn tạm giam.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo H cho rằng giai đoạn phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: có hành động cứu giúp anh Trần Quốc V2 bị điện giật nguy cấp đến tính mạng (có xác nhận của Chính quyền địa phương ngày 29/12/2023), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nuôi con nhỏ...bản thân bị cáo đã bị tạm giam 1 năm 04 ngày, đủ để bị cáo nhận thức, cải sửa hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm án bằng thời gian tạm giam hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Các bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa sơ thẩm đã tuyên. Riêng tình tiết giảm nhẹ mới của bị cáo H sẽ xem xét trong quá trình thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Bị cáo Hứa Thị Diễm T3 có kháng cáo, Tòa đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Nguyễn Huy H, Huỳnh Minh T5, Nguyễn Văn P đều thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã truy tố, xét xử; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, thể hiện:

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Nhật L1 là người có vai trò chủ mưu, cầm đầu; bị cáo là người thuê các bị cáo khác, chuẩn bị công cụ, địa điểm, phương tiện để tổ chức đánh bạc dưới hình thức thầu đề và nhận phơi đề nhằm thu lợi bất chính. Kết quả điều tra xác định tại thời điểm bắt giữ quả tang tổng số tiền đánh bạc thể hiện trên các tin nhắn (phơi đề) là 656.675.000 đồng. Quá trình tổ chức đánh số đề L1 thuê Huỳnh Ngọc A, Nguyễn Thanh S2 và Trần Cường G giúp L1 nhận tin nhắn các phơi đề của các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề, sau đó nhắn tin cho L1 kết quả thắng thua sau khi có kết quả xổ số để tính tiền thắng thua. L1 thuê Nguyễn Trung H2 và Phan Gia T6 đi giao, nhận tiền thắng thua hàng ngày với các đại lý cấp dưới và các đối tượng chơi số đề. Ngoài ra quá trình tổ chức đánh bạc còn có sự tham gia của Nguyễn Ngọc S1 (em ruột L1), cho L1 mượn địa điểm là nhà ở của mình để G ở và tổ chức nhận phơi đề của các con bạc; giúp L1 tính toán tiền thắng thua, ứng tiền chung chi với các đại lý và đối tượng đánh bạc.

Kết quả điều tra xác định, quá trình tổ chức đánh bạc, Nguyễn Nhật L1 đã thu lợi bất chính 250.000.000 đồng, Huỳnh Ngọc A thu lợi 76.500.000 đồng, Ngô Thanh S thu lợi 31.500.000 đồng, Trần Cường G thu lợi 100.000.000 đồng, Nguyễn Trung H2 thu lợi 72.000.000 đồng, Phan Gia T6 thu lợi 30.000.000 đồng, Nguyễn Huy H thu lợi 36.000.000 đồng.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phát hiện vào ngày 06/01/2021, Nguyễn Văn P đánh số đề với tổng số tiền là 5.104.000 đồng thông qua Huỳnh Ngọc A; Võ Thị Hồng M1 nhắn tin đánh số đề với tổng số tiền là 8.860.000 đồng thông qua Nguyễn Huy H; Hứa Thị Diễm T3 nhắn tin đánh số đề với tổng số tiền là 16.912.000 đồng thông qua Huỳnh Ngọc A; Huỳnh Minh T5 nhắn tin đánh số đề với tổng số tiền 7.670.000 đồng thông qua Trần Cường G.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 341/2023/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt các bị cáo Nguyễn Nhật L1, Nguyễn Ngọc S1, Trần Cường G, Huỳnh Ngọc A, Ngô Thanh S, Phan Gia T6, Nguyễn Trung H2 và Nguyễn Huy H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo Nguyễn Văn P, Hứa Thị Diễm T3, Võ Thị Hồng M1 và Huỳnh Minh T5 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, phần Quyết định Bản án sơ thẩm không tuyên bố các bị cáo phạm tội như trên là thiếu sót, cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, Tòa sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[3]. Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo, thấy rằng:

[3.1]. Đối với nhóm “Tổ chức đánh bạc” của các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Nguyễn Huy H: Tội phạm các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng (hình phạt từ 05 năm đến 10 năm, thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên); số tiền đã sử dụng để “Tổ chức đánh bạc” là 656.675.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Nhật L1 là người chủ mưu cầm đầu, lôi kéo các bị cáo khác phạm tội và là người có số tiền thu lợi bất chính nhiều nhất là 250.000.000 đồng; Bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L1 03 năm 06 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) là nhẹ và không đúng. Tuy nhiên, do bị cáo không bị kháng nghị nên không làm bất lợi cho bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt như quyết định bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Đối với các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Nguyễn Huy H. Các bị cáo đều có vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo L1. Tòa sơ thẩm căn cứ vào số tiền thu lợi bất chính, để xử phạt bị cáo S, G mỗi bị cáo 02 năm 6 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các bị cáo G, S không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo.

Riêng đối với bị cáo H, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: có hành động quên mình cứu giúp anh Trần Quốc V2 trú tại Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An khỏi tình huống nguy cấp đến tính mạng (bị điện giật, có xác nhận của Chính quyền địa phương ngày 29/12/2023), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội đã lập công chuộc tội” được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015tinh thần hướng dẫn tại điểm b mục 5 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao). Thấy rằng, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, số tiền thu lợi bất chính dưới 50 triệu đồng (36 triệu đồng); Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nơi cư trú rõ ràng; có thêm tình tiết giảm nhẹ mới và bản thân đã bị tạm giam hơn 01 năm; Với thời gian này cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, không cần thiết tiếp tục bắt giam bị cáo để chấp hành án mà chỉ cần áp dụng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện là đủ và đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 02 ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta.

[3.2]. Đối với nhóm “Tội đánh bạc” của các bị cáo Hứa Thị Diễm T3, Huỳnh Minh T5, Nguyễn Văn P. Tội phạm các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng (có mức hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm); Toà sơ thẩm đã phân hóa vai trò, số tiền tham gia đánh bạc, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo: T3 01 năm tù, T5 và P mỗi bị cáo 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên, đối với bị cáo Nguyễn Văn P chỉ tham gia đánh bạc dưới hình thức mua số đề, số tiền thắng thua không lớn (ít nhất trong nhóm tội đánh bạc: 5.104.000 đồng). Thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng nên việc tiếp tục hình phạt tù đối với bị cáo là không cần thiết. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Riêng bị cáo Huỳnh Minh T5, mặc dù bị cáo cũng có hoàn cảnh khó khăn, nuôi bà ngoại già. Tuy nhiên, trong vụ án này con bị cáo là bị cáo Huỳnh Ngọc A đã được Tòa sơ thẩm xét xử cho hưởng án treo trong nhóm tội “Tổ chức đánh bạc”; Do đó, đã có người ở ngoài chăm sóc gia đình, nên không chấp nhận kháng cáo xin chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt theo quyết định bản án sơ thẩm.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Hứa Thị Diễm T3, Huỳnh Minh T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận.

- Các bị cáo Nguyễn Huy H, Nguyễn Văn P không phải chịu án phí.

[6]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 341/2023/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với 02 bị cáo Nguyễn Huy H, Nguyễn Văn P.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Nguyễn Huy H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Nguyễn Văn P, Hứa Thị Diễm T3 và Huỳnh Minh T5 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S.
      • - Xử phạt bị cáo Trần Cường G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời hạn tạm giam từ 06/01/2021 đến ngày 15/11/2021.
      • - Xử phạt bị cáo Ngô Thanh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 06/01/2021 đến ngày 12/5/2021.
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Huy H.
      • Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 15/4/2024).

      Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Huỳnh Minh T5, Hứa Thị Diễm T3.
      • - Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T5 09 (C) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
      • - Xử phạt bị cáo Hứa Thị Diễm T3 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 07/01/2021 đến ngày 12/01/2021.
    4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
      • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (C) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 15/4/2024).

      Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Các bị cáo Trần Cường G, Ngô Thanh S, Hứa Thị Diễm T3, Huỳnh Minh T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
    • - Các bị cáo Nguyễn Huy H, Nguyễn Văn P không phải chịu án phí.
  4. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo tại ngoại;
  • - Lưu: HS, VP, 29bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 262/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 262/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kháng cáo xin giảm nhẹ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger